Danh mục: Cập nhật GUILDLINE

  • TIẾP CẬN ĐAU BỤNG MẠN TRẺ EM TS.BS. Nguyễn Việt Trường

    https://gooddoctorvn.com/ xin giới thiệu bài giảng Đau bụng mạn tính ở trẻ em

    TÁC GIẢ: TS.BS. Nguyễn Việt Trường TS.BS. Nguyễn Việt Trường công tác tại khoa Tiêu Hóa bệnh viện Nhi đồng 1.

    Tóm tắt nội dụng:

    – **Định Nghĩa**: Đau bụng mạn ở trẻ em được định nghĩa là đau bụng liên tục hoặc tái diễn thường xuyên, kéo dài ít nhất 3 tháng[^1^][1]. Các triệu chứng đi kèm có thể bao gồm thay đổi thói quen đi tiêu, buồn nôn, nôn, sụt cân hoặc không tăng cân[^2^][2][^3^][3]. –

    **Tiếp Cận Đau Bụng Mạn**: Tiếp cận bao gồm đánh giá ban đầu về bệnh sử và các triệu chứng, khám thực thể, nhận biết các dấu hiệu báo động, và thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng cần thiết. –

    **Nguyên Nhân**: Các nguyên nhân của đau bụng mạn có thể bao gồm rối loạn tiêu hóa chức năng, bệnh lý tiêu hóa, táo bón, bất dung nạp và dị ứng thức ăn, bệnh lý tiết niệu sinh dục, tâm lý, bệnh lý thần kinh cơ, và bệnh lý hệ thống. –

    **Điều Trị**: Điều trị bao gồm thay đổi lối sống, chế độ dinh dưỡng, điều trị nội khoa, can thiệp tâm lý, và theo dõi tái khám thường xuyên để đánh giá diễn tiến và thay đổi điều trị khi cần thiết[^4^][4].

  • NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM MÀNG NÃO TẠI KHOA SƠ SINH BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG CẦN THƠ

    NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM MÀNG NÃO TẠI KHOA SƠ SINH BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG CẦN THƠ

    Bùi Thị Phương Anh1*, Trần Đức Long2, Trần Việt Hoàng2, Trần Thị Huỳnh Như2,

    Trần Thị Kim Tuyền1, Huỳnh Thị Huyền Trang1

    1Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ

    2 Đại học Y Dược Cần Thơ

    * Email: [email protected]

    * SĐT: 0342238580

    TÓM TẮT

    Đặt vấn đề: Viêm màng não ở trẻ sơ sinh là một trong những bệnh nhiễm trùng thường gặp gây ra bệnh tật và tử vong phổ biến trên thế giới và Việt Nam. Việc chẩn đoán viêm màng não sẽ rất khó khăn đặc biệt trong thời kì sơ sinh vì biểu hiện lâm sàng không đặc hiệu và chọc dò tủy sống có thể trì hoãn do lâm sàng không ổn định. Mục tiêu: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị viêm màng não tại khoa sơ sinh bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ. Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 55 bệnh nhi được chẩn đoán viêm màng não tại khoa sơ sinh bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ. Kết quả: Số trẻ nam chiếm 58,2%. Các triệu chứng lâm sàng thường gặp là sốt, bỏ bú, lừ đừ, vàng da. Xét nghiệm protein dịch não tủy tăng chiếm 60%, glucose dịch não tủy so với glucose mao mạch giảm gặp trong 23 trường hợp (41,8%), tế bào tăng chiếm 52,7% và bình thường chiếm 47,3%. Tỉ lệ điều trị thành công chiếm 92,7% và thất bại 1,8%. Kết luận: Viêm màng não là bệnh lý nhiễm khuẩn thường gặp ở trẻ sơ sinh, với các triệu chứng không đặc hiệu có thể nằm trong bệnh cảnh của bệnh lý khác. Bệnh có xu hướng thường gặp ở trẻ nam. Triệu chứng không đặc hiệu, trong đó triệu chứng lâm sàng thường gặp là sốt, bỏ bú, lừ đừ. Xét nghiệm dịch não tủy protein và bạch cầu tăng nhưng kết quả cấy dương tính thấp. Thời gian điều trị trung bình 3-4 tuần. Tỉ lệ thất bại 1,8%. Từ khóa: viêm màng não sơ sinh.

    ABSTRACT

    STUDY FOR CLINICAL AND PARACLINICAL FEATURES AND EVALUATION OF MENINGITIS TREATMENT RESULTS AT NEONATOLOGY DEPARTMENT OF CAN THO CHILDREN’S HOSPITAL

    Bui Thi Phuong Anh1*, Tran Duc Long2, Tran Viet Hoang2, Tran Thi Huynh Nhu2, Tran Thi Kim Tuyen1, Huynh Thi Huyen Trang1

    1Can Tho Children’s Hospital

    2Can Tho University of Medicine and Pharmacy

    *Email: [email protected]

    *Phone number: 0342238580

    Background: Neonatal meningitis is one of the common infections causing morbidity and mortality in the world and in Vietnam. Symptoms of meningitis patients will vary depending on the causative agent, age, gender and duration of the disease. The diagnosis of meningitis can be difficult, especially in the neonatal period, because the clinical presentation is nonspecific and lumbar puncture can be delayed due to clinical instability. Objectives: To study the clinical and paraclinical characteristics and evaluate the results of meningitis treatment in the neonatal department of Can Tho Children’s Hospital. Methods: A cross-sectional descriptive study was conducted on 55 pediatric patients diagnosed with meningitis at the neonatology department of Can Tho Children’s Hospital. Results: Male children accounted for 58.2%. Common clinical symptoms are fever, feeding intolerance, lethargy, and jaundice. Testing for CSF protein increased 60%, CSF glucose compared with capillary glucose decreased in 23 cases (41.8%),

    increased cells accounted for 52.7% and normal accounted for 47.3%. Treatment success rate accounted for 92.7% and failure rate 1.8%. Conclusion: Meningitis is a common bacterial infection in neonates, with nonspecific symptoms that may be associated with other medical conditions. The disease tends to be more common in boys. Symptoms are not specific, in which the common clinical symptoms are fever, feeding intolerance, lethargy. Cerebrospinal fluid test protein and white blood cells are increased but positive culture results are low. The average duration of treatment is 3-4 weeks. 1.8% failure rate. Key word: Neonatal meningitis.

    Đặt vấn đề

    Viêm màng não (VMN) là một bệnh nhiễm khuẩn thường gặp ở trẻ sơ sinh đặc biệt là đối tượng trẻ sinh non nhẹ cân yêu cầu những can thiệp tích cực sau sinh. Bệnh đáp ứng với điều trị và tiên lượng tốt khi được chẩn đoán và điều trị sớm, chẩn đoán và điều trị chậm trễ có thể gây ra nguy cơ điều trị khó khăn và để lại di chứng nặng nề về sự phát triển tâm thần, vận động. Chẩn đoán viêm màng não dựa trên sự kết hợp của triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm dịch não tủy của bệnh nhi, triệu chứng của bệnh nhân viêm màng não sẽ thay đổi tùy theo loại mầm bệnh, tuổi, giới và thời gian mắc bệnh. Chính vì vậy việc chẩn đoán viêm màng não sơ sinh rất khó khăn đặc vì biểu hiện lâm sàng thường không đặc hiệu và chọc dò tủy sống thường bị hoãn ở do tình trạng lâm sàng không ổn định. Hơn thế nữa, việc sử dụng kháng sinh rộng rãi trong cộng đồng đã làm cho triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của viêm màng não không còn điển hình nữa, gây khó khăn cho việc chẩn đoán sớm và điều trị tích cực. Những đặc điểm của bệnh giúp chẩn đoán nhanh và điều trị kịp thời là rất cần thiết ở bệnh nhi viêm màng não. Chính vì vậy nhằm góp phần giúp các Bác sĩ lâm sàng chuyên nghành sơ sinh chẩn đoán sớm và điều trị tốt hơn viêm não màng não nên chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị viêm màng não tại Khoa Sơ sinh Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ năm 2023” với 2 mục tiêu:

    1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh viêm màng não ở trẻ sơ sinh tại Khoa sơ sinh Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ năm 2023.
    2. Đánh giá kết quả điều trị bệnh viêm màng não ở trẻ sơ sinh tại Khoa sơ sinh bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ năm 2023.
    3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
      1. Đối tượng nghiên cứu
        • Tiêu chuẩn chọn mẫu
    • Lâm sàng: bệnh nhi được chẩn đoán viêm màng não tại khoa sơ sinh bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ.
    • Dịch não tủy: gợi ý tình trạng viêm màng não.
    • Gia đình bệnh nhân đồng ý tham gia vào nghiên cứu.

    Tiêu chuẩn loại trừ

    • Bệnh nhân có dị tật bẩm sinh hệ thần kinh
    • Bệnh nhân có dị tật não úng thủy hoặc tật đầu nhỏ
    • Bệnh nhân có cha mẹ suy giảm miễn dịch
    • Bệnh nhi có ngạt khi sinh

    Phương pháp nghiên cứu

    • Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang.

    Cỡ mẫu:

    p: tỉ lê ̣điều trị thành công viêm màng não ở trẻ sơ sinh. Theo nghiên cứu của Liu G và cộng sự (2020) tỷ lệ này là 87,7% nên chọn p = 0,878;

    α: xác suất sai lầm loại 1. Với α = 0,05 thì độ tin cậy là 95%;


    Z: hệ số tin cậy. Với độ tin cậy là 95% thì Z = 1,96; d: sai số cho phép, d = 9%. Áp dụng vào công thức:

    Trên thực tế chúng tôi thu thập được 55 mẫu.

    Nội dung nghiên cứu:

    + Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu: giới, tuổi, nơi ở của mẹ, trình độ văn hóa của mẹ, nghề nghiệp, cân nặng

    + Đặc điểm lâm sàng: lí do vào viện, triệu chứng thần kinh ( lừ đừ, co giật..), triệu chứng hô hấp (thở nhanh, thở co lõm), triệu chứng tuần hoàn, triệu chứng tiêu hóa ( bỏ bú, nôn ói, chướng bụng ), triệu chứng da , niêm ( mụn mủ, vàng da)

    + Đặc điểm cận lâm sàng: thay đổi ở công thức máu, dịch não tủy, điện giải đồ

    + Đánh giá kết quả điều trị: tỉ lệ điều trị thành công, thời gian nằm viện, tỉ lệ thất bại.

    Kết quả nghiên cứu

    Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu:

    Nam (n=32), 41.2%


    Nữ (n=23), 58.1%

    Biểu đồ 1. Phân bố đối tượng theo giới tính

    Nhận xét: Trẻ sơ sinh mắc bệnh viêm màng não giới tính nam chiếm 58,2% và nữ chiếm 41,8%.

    Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

        1. Lâm sàng

    Biểu đồ 2. Phân bố lí do vào viện

    Nhận xét: trẻ sơ sinh viêm màng não vào viện chủ yếu vì lí do sốt chiếm 49,1% và có 14,5% trường hợp vào viện vì thở mệt và 9,1% trẻ vào viện vì triệu chứng co gồng.

    Các triệu chứng lâm sàng: sốt, lừ đừ, bỏ bú, chướng bụng, vàng da là những dấu hiệu lâm sàng thường gặp ở bệnh nhân viêm màng não.

    Lí do vào viện chủ yếu là sốt, thở mệt, bỏ bú

    3.2.2 Cận lâm sàng:

    • Đặc điểm glucose DNT so với glucose mao mạch cùng lúc Bảng 1. Đặc điểm kết qủa glucose DNT so với glucose mao mạch
    Glucose DNT/máu Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
    Giảm 23 41,8
    Bình thường 32 58,2
    Tổng 55 100

    Nhận xét: Trẻ sơ sinh viêm màng não có glucose DNT so với glucose mao mạch giảm gặp trong 23 trường hợp (41,8%).

    Đặc điểm phản ứng Pandy Bảng 2. Đặc điểm kết quả Pandy

    Pandy Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
    Dương 49 89,1
    Âm 6 10,9
    Tổng 55 100

    Nhận xét: Trẻ sơ sinh viêm màng não có kết quả pandy dương chiếm 89,1% và có 10,9% trường hợp kết quả pandy âm tính.

    Đặc điểm tế bào trong DNT

    Bảng 3. Đặc điểm tế bào trong DNT

    Tế bào/DNT Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
    Bình thường 26 47,3
    Tăng 29 52,7
    Tổng 55 100

    Nhận xét: Trẻ sơ sinh viêm màng não có kết quả tế bào tăng chiếm 52,7% và bình thường chiếm 47,3%.

    Đặc điểm xét nghiệm khác: Trẻ sơ sinh viêm màng não có triệu chứng thiếu máu chiếm 45,4%, bạch cầu tăng chiếm 23,6% và bạch cầu giảm 20%. Tiểu cầu giảm gặp ở 16,4% trường hợp. CRP tăng chiếm đến 45,5% trường hợp. Natri trong máu giảm chiếm đến 62,1% và tăng chiếm 5,5%. Trong khi đó ion kali trong máu tăng gặp 8 trường hợp chiếm 24,4% và giảm 5 trường hợp (13,5%). Trẻ sơ sinh viêm màng não có 100% trường hợp cấy DNT âm tính. Trong cấy máu có 14,5% (8 trường hợp) dướng tính, vi khuẩn burkhoderia cepacia được ghi nhận trong 4 trường hợp, Staphylococcus epidermidis ghi nhận ở 2 trường hợp, Staphylococcus capitis ghi nhận trong 1 trường hợp và Staphylococcus heamalyticus ghi nhận trong 1 trường hợp.

    3.3 Điều trị:

    • Đặc điểm kết quả điều trị

    Bảng 4. Đặc điểm kết quả điều trị

    Kết quả điều trị Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
    Thành công 51 92,7
    Di chứng 3 5,5
    Thất bại 1 1,8
    Tổng 55 100

    Nhận xét: kết quả điều trị thành công ở trẻ sơ sinh viêm màng não chiếm 92,7% và thất bại 1,8%.

    Số ngày điều trị

    Bảng 5. Số ngày nằm viện

    Số ngày nằm viện Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
    ≤28 ngày 35 63,6
    >28 ngày 20 36,4
    Tổng 55 100
    Trung bình 28,85 ± 10,9 ngày

    Nhận xét: Có 36,4% trường hợp trẻ viêm màng não có thời gian điều trị >28 ngày. Thời gian nằm viện trung bình là 28,85 ± 10,9 ngày.

    Bàn luận

      1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

    Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỷ lệ trẻ sơ sinh viêm màng não giới tính nam là 58,2%, nữ là 41,8%. Nhìn chung xu bệnh thường gặp nam nhiều hơn nữ. Tỷ lệ trẻ sơ sinh khởi phát >7 ngày tuổi chiếm 50,9%. Tỷ lệ bà mẹ sống ở nông thông chiếm 67,3% trong tổng số bà mẹ có con viêm mãng não. Về nghề nghiệp và trình độ học vấn của bà mẹ, chúng tôi nhận thấy đa số trường hợp là nội trợ và làm ruộng và trình độ học vấn của bà mẹ chủ yếu ở nhóm trung học cơ sở 45,5%.

    Trong 55 trường hợp trẻ sơ sinh viêm màng não chúng tôi ghi nhận tuổi trung bình của bà mẹ là 29,9±7 tuổi, nhóm tuổi ≤35 tuổi chiếm đến 80%.

    Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

        1. Đặc điểm lâm sàng Lí do vào viện

    Trong các lí do vào viện chúng tôi ghi nhận triệu chứng sốt chiếm tỷ lệ cao nhất 49,1%. Tác giả Phạm Thị Phương cũng ghi nhận lý do vào viện của trẻ sơ sinh viêm màng não chủ yếu là sốt, li bì, bú kém, da tái và co giật. Tác giả Liu C và cộng sự cũng ghi nhận kết quả sốt chiếm đến 71,1% trẻ nhập viện [6]. Nhìn chung, ở trẻ viêm màng não sốt là triệu chứng khiến bố mẹ lo lắng và đưa trẻ nhập viện nhiều nhất.

    Đặc điểm thân nhiệt của bệnh nhi

    Qua nghiên cứu chúng tôi ghi nhận có 61,8% trẻ có sốt và 5,5% trường hợp hạ thân nhiệt. Tác giả Huỳnh Thị Ngọc Huyền cũng ghi nhận sốt chiếm 45,5% và hạ thân nhiệt chiếm 3% [1]. Tác giả Huỳnh Ngọc Khôi Cát báo cáo năm 2019 sốt gặp ở 100% trường hợp trẻ viêm màng não [4]. Tác giả Liu C và cộng sự báo cáo ghi nhận sốt trên 83,8% trẻ sơ sinh viêm màng não sớm và 97,3% ở trẻ viêm màng não muộn [6]

    Đặc điểm nhóm triệu chứng hô hấp

    Qua nghiên cứu trên 55 trường hợp viêm màng não, chúng tôi ghi nhận về rối loạn nhịp thở có 14 trường hợp thở thanh (chiếm 25,5%) và 1 trường hợp thở chậm và phải thở máy ngay lập tức khi vào viện. Tác giả Hassan B. ghi nhận trẻ viêm màng não có triệu chứng hô hấp chiếm đến 94,2% (80 ca), trong đó thở nhanh 27 ca [5].

    Đặc điểm nhóm triệu chứng tuần hoàn

    Về đặc điểm nhóm triệu chứng tuần hoàn, chúng tôi ghi nhận có 12,7% trẻ có nhịp tim nhanh và 7,3% trường hợp trẻ có da nổi bông, không ghi nhận trường hợp nào có CRT>3s. Nhìn chung triệu chứng tuần hoàn chiếm tỷ lệ thấp, đây không phải là triệu chứng điển hình viêm màng não ở trẻ sơ sinh.

    Đặc điểm nhóm triệu chứng thần kinh

    Triệu chứng trong nhóm thần kinh thường gặp nhất là lừ đừ, li bì chiếm 51,8%, kế tiếp là rối loạn về trương lực cơ chiếm 40% và co giật gặp trong 9,1% trường hợp, Không ghi nhận trường hợp nào hôn mê và thóp phồng.

    Đặc điểm nhóm triệu chứng tiêu hóa

    Về triệu chứng tại đường tiêu hóa, nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận triệu chứng thường hặp nhất là bỏ bú chiếm 50,9%, kế tiếp là chướng bụng chiếm 40%, tiêu chảy 12,7%, nôn ói chiếm 9,1%. Nghiên cứu của Huỳnh Thị Ngọc Huyền ghi nhận triệu chứng tiêu hóa chiếm tỷ lệ cao nhất 69,7% [1]. Nghiên cứu của Liu và cộng sự lại ghi nhận bú kém gặp ở 78,4% trường hợp viêm màng não sớm và 62,2% trường hợp viêm màng não muộn [8].

    Đặc điểm nhóm triệu chứng da niêm

    Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận triệu chứng da niêm chủ yêu là vàng da 32,7%, xuất huyết dưới da 3,6%, rốn đỏ 7,3% và không có trường hợp nào cứng bì. Trong nghiên cứu tác giả Liu và Daniel ghi nhận vàng da gặp trong trẻ viêm màng não sớm lần lượt là 29,7% và 22,2% [7], [8].

    4.2.2 Đặc điểm cận lâm sàng

    * Đặc điểm công thức máu

    Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận trẻ sơ sinh viêm màng não có Hb<13,5g/gL chiếm đến 45,5%, số lượng bạch cầu giảm chiếm 20%, số lượng bạch cầu tăng chiếm 23,6% và tiểu cầu giảm chiếm 16,4%.

    Đặc điểm CRP

    Trong nghiên cứu chúng tôi ghi nhận CRP tăng gặp trong 45,5% trường hợp. Giá trị CRP dao động từ 0,4-286 mg/L, trung bình là 33 mg/L. [3]. Tác giả Liu và cộng sự ghi nhận giá trị của CRP ở nhóm viêm màng não muộn tăng cao hơn có ý nghĩa thông kê so với nhóm viêm màng não sớm [8]. Kết quả của các nghiên cứu có thể thấy rằng CRP đều tăng ở kể cả nhóm viếm màng não sớm hay muôn. Chính vì vậy, các bác sĩ lâm sàng cần cân nhắc CRP như là một trong những xét nghiệm có thể thực hiện đầu tiên để đánh giá ở trẻ sơ sinh viêm màng não.

    Đặc điểm điện giải đồ

    Trong nghiên cứu của chúng tôi có 37 trường hợp được xét nghiệm điện giải đồ, chúng tôi ghi nhận natri giảm ở 62,1% trường hợp, tăng trong 5,5 trường hợp. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng ghi nhận ion kali giảm ở 13,5% trường hợp và tăng trong 24,4%. Đa số các bệnh nhân đều không có triệu chứng lâm sàng ở nhóm rối loạn điện giải.

    Cấy máu

    Về cấy máu, chúng tôi ghi nhận có 8 trường hợp dương tính (chiếm 14,5%), trong đó vi khuẩn burkhoderia cepacia được ghi nhận trong 4 trường hợp, Staphylococcus epidermidis ghi nhận ở 2 trường hợp, Staphylococcus capitis ghi nhận trong 1 trường hợp và Staphylococcus heamalyticus ghi nhận trong 1 trường hợp.

    Đặc điểm Dịch não tủy Màu sắc và áp lực DNT

    Trong 55 trường hợp viêm màng não trong nghiên cứu của chúng tôi đều ghi nhận màu sắc DNT trong và áp lực DNT trung bình.

    Protein/DNT

    Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỷ lệ trẻ sơ sinh viêm màng não có protein trong DNT tăng chiếm 60%, Protein/DNT trung bình là 1,1 g/L. Trong nghiên cứu của Huỳnh Thị Thu Huyền ghi nhận nồng độ protein trong DNT là 1,24g/L [1]. Cho kết quả tương tự, tác giả Phạm Thị Phương báo cáo năm 2020 cho thấy tỷ lệ protein trong DNT xét nghiệm lần đầu trung bình là 1,79g/L [2]. Tại bệnh viện Nhi đồng 2,

    theo tác giả Huỳnh Ngọc Khôi Cát và cộng sự báo cáo thì tỷ lệ trẻ viêm màng não không tăng protein chiếm đến 82,1% [4].

    Glucose DNT/mao mạch

    Nồng độ glucose trong DNT giảm <1/2 so với glucose mao mao trong nghiên cứu của chúng tôi là 41,8%. Theo báo cáo của tác giả Tan J năm 2015 cho thấy tỉ số glucose DNT/máu dưới 50% là 62,1% [9].

    Pandy và tế bào trong DNT

    Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thể hiên qua bảng 3.18 và 3.19 cho thấy rằng tỷ lệ trẻ sơ sinh viêm màng não mủ có pandy dương tính chiếm 89,1% và tế bào trong DNT tăng chiếm đến 47,3%. Số lượng tế bào/DNT trung bình là 45 tế bào.

    Cấy DNT

    Trong nghiên cứu của chúng tôi 55 ca cấy DNT vi khuẩn không mọc sau 4 ngày.

    Kết quả điều trị

    Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận có 51 trẻ (chiếm 92,7%) điều trị thành công, có 1 ca trẻ tử vong (1,8%) và 3 trẻ có di chứng sau khi xuất viện, biểu hiện lâm sàng chủ yếu là co gồng tay chân và tăng trương lực cơ. Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Ngọc Khôi Cát 2019 cũng ghi nhận tỷ lệ điều trị thành công ở trẻ viêm màng não là 92,86%, 7,14% trẻ có di chứng sau xuất viện và không có trẻ nào tử vong [4]. Theo báo cáo của tác giả Phạm Thị Phương cho thấy kết quả điều trị khỏi bệnh hoàn toàn không di chứng chiếm 65,63%, di chứng sau khi xuất viện chiếm 9,38%, nặng xin về chiếm 6,25% [2].

    Kết luận

    Viêm màng não là bệnh lý nhiễm khuẩn thường gặp ở trẻ sơ sinh, với các triệu chứng không đặc hiệu có thể nằm trong bệnh cảnh của bệnh lý khác. Bệnh có xu hướng thường gặp ở trẻ nam. Triệu chứng không đặc hiệu, trong đó triệu chứng lâm sàng thường gặp là sốt, bỏ bú, lừ đừ. Xét nghiệm dịch não tủy protein và bạch cầu tăng nhưng kết quả cấy dương tính thấp. Thời gian điều trị trung bình 3-4 tuần. Tỉ lệ thất bại 1,8%.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO


    1. Huỳnh Thị Ngọc Huyền và Lê Thị Thúy Loan (2018), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị viêm màng não ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ năm 2017-2018, Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ Đa khoa, Trường Đại học Y dược Cần Thơ, Cần Thơ.

    2. Phạm Thị Phương (2019), Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và bước đầu nhận xét kết quả điều trị bệnh viêm màng não mủ ở trẻ sơ sinh bệnh viện Nhi Thanh Hóa, Tạp chí nghiên cứu và thực hành nhi khoa, 1, tr. 39-43.

    3. Nguyễn Thị Quỳnh Nga (2021), Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của viêm màng não nhiễm khuẩn ở trẻ sơ sin, Tạp chí Nhi Khoa, 14(2), tr. 54-61.

    4. Huỳnh Ngọc Khôi Cát và Phạm Diệp Thùy Dương (2019), Viêm màng não muộn ở trẻ sơ sinh đủ tháng, Y học Thành phố Hồ Chí minh, 23(1), pp. 36-40.

    5. Hassan B., Heidari E. and Zakeriham M. (2020), Etiology, clinical findings and laboratory parameters in neonates with acute bacterial meningitis, Iran Journal Microbiol, 12(2), pp. 89- 97.

    6. Liu C. (2015), Epidemiology of neonatal purulent menigitis in Hebei Province, China: a multicenter study, Chinese journal of contemporary pediatrics, 17(5), pp. 419-424.

    7. Daniel G. P., Barbara M. E., Ye-Tay J., et al (2020), Neonatal menigitis: a multicenter study in Lima, Peru, Rev Peru Med Exp Salud Pub, 37(2), pp. 210-219.

    8. Liu G., He S., Zhu X., et al (2020), Early onset neonatal bacterial meningitis in term infants: the clinical features, perinatal conditions, and in-hospital outcomes, Medicine, 99(4), pp. 1-6.

    9. Holmquist L., Russo C. A. và Elixhauser (2008), Meningitis-Related Hospitalizations in the United States, 2006, Healthcare cost and utilization Project, Healthcare cost and utilization, America.
  • PHẦN MỀM NEOCALC.VN TRONG QUẢN LÝ TRẺ SƠ SINH TỪ 34 TUẦN TUỔI THAI NGHI NHIỄM KHUẨN HUYẾT SỚM

    PHẦN MỀM NEOCALC.VN TRONG QUẢN LÝ TRẺ SƠ SINH TỪ 34 TUẦN TUỔI THAI NGHI NHIỄM KHUẨN HUYẾT SỚM

    TẠI BỆNH VIỆN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

    Nguyễn Thị Hoàng Oanh1, Nguyễn Thu Tịnh2

    TÓM TẮT

    Đặt vấn đề: nhiễm khuẩn huyết sớm là bệnh thường gặp ở trẻ sơ sinh. Các hướng dẫn điều trị dựa vào yếu tố nguy cơ của bà mẹ hoặc triệu chứng lâm sàng của trẻ không đặc hiệu; dẫn đến tỷ lệ sử dụng kháng sinh không cần thiết ở những trẻ khoẻ mạnh khá cao, gây lãng phí chi phí điều trị.

    Mục tiêu:1) so sánh tỷ lệ khuyến cáo kháng sinh theo công cụ dự đoán NEOS của Kaiser điều chỉnh với hướng dẫn CDC 2010 ở trẻ sơ sinh 34 tuần tuổi thai nghi nhiễm khuẩn huyết sớm; 2) ước tính chi phí điều trị.

    Phương pháp nghiên cứu: tiến cứu. Trẻ sơ sinh 34 tuần tuổi thai được sanh ra từ bà mẹ có yếu tố nguy cơ gây nhiễm khuẩn huyết sớm hoặc trẻ sau sanh – 12 giờ tuổi có triệu chứng lâm sàng liên quan nhiễm khuẩn huyết tại khoa sản và khoa nhi bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu từ 01/11/2021 đến 30/04/2022. Quan sát và ghi nhận đặc điểm bà mẹ, lâm sàng của trẻ, chẩn đoán, khuyến cáo điều trị. Kiểm định sự khác biệt giữa 2 tỷ lệ khuyến cáo kháng sinh theo công cụ và theo hướng dẫn CDC 2010 bằng phép kiểm chi bình phương. Ngoại kiểm phần mềm NeoCalc.vn và ước tính chi phí điều trị

    Kết quả: 99 trẻ thoả tiêu chuẩn được chọn vào. Tất cả đều có kết quả cấy máu âm tính. Trong đó, 14/99 (14,1%) trẻ được chẩn đoán có khả năng nhiễm khuẩn huyết sớm. Sử dụng tỷ lệ hiện mắc 16/1.000 trẻ sanh sống, công cụ khuyến cáo kháng sinh cho 42/99 (42,2%) trẻ, hướng dẫn CDC 2010 khuyến cáo kháng sinh cho 74/99 (74,8%) trẻ, không có trường hợp bị công cụ bỏ sót. Chi phí điều trị trung bình cho 1 đợt điều trị nhiễm khuẩn huyết/1 trẻ là 10.207.000đ.

    Kết luận: sử dụng công cụ dự đoán NEOS điều chỉnh giúp giảm sử dụng kháng sinh cho 32,6% trẻ một cách an toàn so với hướng dẫn CDC 2010; giúp tránh lãng phí chi phí điều trị cho những trẻ khoẻ mạnh bị chỉ định kháng sinh không cần thiết.

    Từ khoá: nhiễm khuẩn huyết sơ sinh, Neo Calc.vn

    Viết tắt: AAP:American Academy of Pediatrics, CDC: Center for Disease Control and Prevention, CRP: C-Reactive Protein, GBS: Group B Streptoccoccus, IAP: Intrapartum Antibiotic Prophylaxis, NEOS: Neonatal Early Onset Sepsis, NICE: Nationtal Institude for Health and Care Excellence.

    1Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu; 2 Trường ĐHYD Thành Phố Hồ Chí Minh Tác giả liên lạc: BSCK2. Nguyễn Thị Hoàng Oanh.

    ĐT: 0918798068. Email: [email protected] ABSTRACT

    NEOCALC.VN SOFTWARE IN THE MANAGEMENT OF NEWBORNS FROM 34 WEEKS OF GESTATION SUSPECTED OF EARLY ONSET SEPSIS

    AT NGUYEN DINH CHIEU HOSPITAL

    Nguyen Thi Hoang Oanh, Nguyen Thu Tinh Background: Early-onset sepsis in newborns is a common disease in newborns. Treatment guidelines are based on non-specific maternal risk factors or clinical symptoms; Therefore, the rate of unnecessary antibiotic use in healthy newborns is high,

    causing waste of treatment costs.

    Objective: 1) compare rates of antibiotic recommendation according to the 2010 CDC vesus the adjusted early onset sepsis calculator in newborns ≥ 34 weeks of gestation age with suspected early sepsis. 2) estimate the cost of treatment.

    Methods: prospective. Newborns ≥ 34 weeks gestational age were born to mothers with risk factors for early-onset sepsis or newborns with clinical onset from postnatal to 12 hours of age at the Obstetrics and Pediatrics Department of Nguyen Dinh Chieu Hospital from November 1, 2021 to April 30, 2022. Observed and recorded maternal features, clinicals, diagnoses, treatment recommendations. Chi square was used to determine the difference between treatment recommendations of NEOS calculator and the CDC 2010 guideline. Externally validation NeoCalc.vn software and estimated treatment costs.

    Results: 99 newborns who met the criteria to be selected for the study. All had negative blood culture results. In which, 14/99 (14,1%) newborns were diagnostic

    probable early onset sepsis. Using an incidence rate of 16/1.000 live births, the early onset sepsis calculator recommended antibiotics for 42/99 (42,2%) newborns. the CDC 2010 guideline recommended antibiotics for 74/99 (74,8%) newborns. The average treatment cost for 1 course of treatment early onset sepsis/1 newborn is 10.207.000VND Conclusions: Using the adjusted neonatal-onset sepsis calculator safely reduced antibiotic use for 32,6% of newborns compared to the CDC 2010 guideline; and effectively avoiding wasting treatment costs for healthy newborns who are used

    antibiotics unnecessarily.

    Keywords: Neonatal early onset sepsis, app Neo Calc

    Abbreviation: AAP: American Academy of Pediatrics, CDC: Center for Disease Control and Prevention, CRP: C-Reactive Protein, GBS: Group B Streptoccoccus, IAP: Intrapartum Antibiotic Prophylaxis, NEOS: Neonatal Early Onset Sepsis, NICE: Nationtal Institude for Health and Care Excellence.

    ĐẶT VẤN ĐỀ

    Nhiễm khuẩn huyết sơ sinh sớm (NEOS) là bệnh thường gặp và là nguyên nhân tử vong đứng thứ hai sau các biến cố sanh non1. Năm 2019, Viện hàn lâm nhi khoa Hoa Kỳ (AAP) đưa ra hướng dẫn về việc quản lý nhiễm khuẩn huyết sơ sinh sớm cho những trẻ từ 35 tuần tuổi thai2. Trong đó, AAP khuyến cáo 3 cách tiếp cận: 1) dựa vào phân loại nguy cơ, 2) dựa vào nguy cơ đa biến (công cụ dự đoán NEOS của Kaiser), 3) dựa vào lâm sàng. Chúng ta có thể sử dụng một trong ba cách tiếp cận, miễn phù hợp với tình hình thực tiễn của đơn vị. Tuy nhiên, không có một nguy cơ hoặc triệu chứng lâm sàng nào có đủ độ nhạy, độ đặc hiệu giúp cho chẩn đoán3. Hậu quả là nhiều trẻ sơ sinh khoẻ mạnh bị phơi nhiễm kháng sinh không cần thiết hoặc bỏ sót những trẻ cần thiết phải điều trị kháng sinh4. Mặt khác, trước tình hình thực tiễn, chi phí cho việc điều trị ngày càng gia tăng. Do đó, việc ước tính lợi ích kinh tế cần thiết được quan tâm. Điều quan trọng là làm sao hạn chế sử dụng kháng sinh không cần thiết vừa mang lại lợi ích về điều trị và tránh lãng phí cho các chi phí điều trị không cần thiết.

    Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy cách tiếp cận dựa vào nguy cơ đa biến theo công cụ dự đoán NEOS của Kaiser đem lại hiệu quả giảm sử dụng kháng sinh quá

    tay một cách an toàn5. Để lựa chọn cách tiếp cận phù hợp cho đơn vị, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục đích: 1) đánh giá xem việc sử dụng công cụ có thật sự hiệu quả giảm tỷ lệ sử dụng kháng sinh một cách an toàn cho trẻ so với hướng dẫn CDC 2010 đang được đơn vị chúng tôi áp dụng hay không?. Từ đó, đánh giá hiệu quả kinh tế của việc áp dụng công cụ trong thực hành lâm sàng.

    Mục tiêu nghiên cứu: 1) so sánh tỷ lệ khuyến cáo kháng sinh của công cụ dự đoán NEOS điều chỉnh so với hướng dẫn CDC 2010 ở trẻ ≥ 34 tuần tuổi thai nghi nhiễm khuẩn huyết sớm. 2) ước tính chi phí điều trị.

    PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    Thực hiện tiến cứu từ 01/11/2021 đến 30/04/2022, tại khoa sản và khoa nhi của bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu. Đối tượng được chọn từ những trẻ sơ sinh có tuổi thai từ 34 tuần trở đi. Chúng tôi tiến hành chọn mẫu không ngẫu nhiên, lấy mẫu lần lượt. Tiêu chuẩn chọn mẫu:1) trẻ được sanh ra từ bà mẹ có một trong các yếu tố nguy cơ (bất kể triệu chứng lâm sàng của trẻ): sốt (≥ 380C), viêm màng ối (chẩn đoán xác định hoặc nghi ngờ), GBS (+), IAP < 4 giờ, vỡ ối ≥ 18 giờ; Hoặc 2) trẻ xuất hiện triệu chứng lâm sàng liên quan nhiễm khuẩn huyết trong vòng 12 giờ tuổi sau sanh (bất kể nguy cơ của bà mẹ). Tiêu chuẩn loại trừ: 1) trẻ sanh ra từ bà mẹ chưa qua chuyển dạ, 2) mẹ dùng thuốc có thể ảnh hưởng đến trẻ (nhóm thuốc gây nghiện), 3) sanh mổ gây mê nội khí quản, 4) trẻ dị tật bẩm sinh, 5) chuyển viện trong thời gian nghiên cứu, 6) người đại diện hợp pháp của trẻ không đồng ý tham gia.

    Định nghĩa biến số: Phân nhóm lâm sàng6 dựa theo định nghĩa của Kuzniewicz và cộng sự gồm: bệnh, nghi ngờ, khoẻ. Chẩn đoán7: “nhiễm khuẩn huyết” khi cấy máu dương tính, “có khả năng nhiễm khuẩn huyết” khi trẻ có cấy máu âm tính và có ≥ 3 triệu chứng lâm sàng hoặc ≥ 2 triệu chứng lâm sàng kết hợp CRP > 10 mg/l, “không nhiễm khuẩn huyết” khi cấy máu âm tính và trẻ khoẻ. Điều trị: theo hướng dẫn CDC 20108 (biến số kết cục) khuyến cáo kháng sinh khi trẻ có bất kỳ triệu chứng lâm sàng liên quan nhiễm khuẩn huyết hoặc được sanh ra từ bà mẹ nghi ngờ hoặc chẩn đoán viêm màng ối; theo công cụ Kaiser6 (biến số kết cục) khuyến cáo kháng sinh khi trẻ thuộc nhóm “bệnh” hoặc xác suất mắc nhiễm khuẩn huyết sớm hậu lâm sàng/1.000 trẻ sanh sống ≥ 3. Công cụ

    được coi là bỏ sót khi không khuyến cáo kháng sinh hoặc xét nghiệm kết hợp theo dõi sát lâm sàng cho những trẻ có chẩn đoán xác định nhiễm khuẩn huyết hoặc có khả năng nhiễm khuẩn huyết sớm.

    Qui trình thực hiện: những can thiệp trên trẻ được chỉ định theo phác đồ điều trị tại đơn vị (dựa theo hướng dẫn của CDC 2010): Sau khi chọn đối tượng, chúng tôi sử dụng phiếu thu thập thông tin được biên soạn sẵn, để thu thập thông tin gồm: 1) đặc tính của bà mẹ: tuổi thai, nhiệt độ cao nhất của mẹ, thời gian vỡ ối, tình trạng GBS, loại và thời gian sử dụng kháng sinh trước sanh; 2) thông tin của trẻ: phân nhóm lâm sàng, CRP, cấy máu, chẩn đoán sau cùng; 3) khuyến cáo điều trị. Mỗi đối tượng chúng tôi thu thập thông tin về khuyến cáo điều trị thực tế và giả định; thực tế là điều trị mà trẻ đang được chỉ định (theo hướng dẫn của CDC 2010); giả định là dựa vào truy cập công cụ Kaiser thu được (và không áp dụng thực tế trên đối tượng); Để thu thập được thông tin về chỉ định điều trị (giả định) của công cụ dự đoán NEOS Kaiser, chúng tôi gặp khó khăn khi nhập thông tin vào công cụ https://neonatalsepsiscalculator.kaiserpermanente.org, công cụ định dạng sẵn tỷ lệ hiện mắc từ 0,1/1.000 – 4/1.000 trẻ sanh sống. Tuy nhiên, tỷ lệ hiện mắc theo thống kê của đơn vị chúng tôi trong năm 2021 là 16/1.000 trẻ sanh sống; với tỷ lệ này không có sẵn, chúng tôi sử dụng excel viết lại công cụ theo hướng dẫn của Puopolo và cộng sự9 với mục đích điều chỉnh điểm chặn 𝛽0 cho phù hợp tỷ lệ hiện mắc của chúng tôi (mỗi tỷ lệ hiện mắc khác nhau sẽ tương ứng điểm chặn 𝛽0 khác nhau) (xem thông tin bổ sung). Sau khi thiết lập công thức excel với phần điều chỉnh điểm chặn, chúng tôi nhập thông tin và ghi nhận khuyến cáo điều trị cho từng đối tượng với tỷ lệ hiện mắc 16/1.000 trẻ sanh sống. Trên cơ sở công thức excel, chúng tôi tiến hành thiết lập phần mềm trực tuyến http://neocalc.vn và ngoại tuyến Neo Calc trên App store (IOS) hoặc CH Play (Android).

    Ngoại kiểm phần mềm NeoCalc.vn và ước tính hiệu quả về chi phí điều trị.

    Dữ liệu thu thập được phân tích bằng SPSS 20.0. Các biến số liên tục được trình bày dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn (mean ± SD) nếu phân phối chuẩn; hoặc trình bày dạng trung vị (bách phân vị 25th và 75th) (median [25th;75th] nếu không có phân phối chuẩn. Dùng phép kiểm Shapiro Wilk để đánh giá phân phối chuẩn (p ≥ 0,05) hay

    không chuẩn (p < 0,05). Các biến số không liên tục được trình bày dưới dạng tần số n (tỷ lệ, %). Kiểm định sự khác biệt của tỷ lệ kháng sinh theo công cụ Kaiser và theo hướng dẫn CDC 2010 bằng phép kiểm chi bình phương, nếu có một ô có tần số < 5 chúng tôi dùng phép kiểm Fisher’s exact. Ngưỡng có ý nghĩa của suy luận thống kê dựa vào giả thuyết H0 là giá trị p < 0,05. Nghiên cứu được thực hiện sau khi được thông qua và chấp thuận của Hội đồng đạo đức bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre theo quyết định số 3549/GCN-HĐĐĐ ngày 31/10/2021.

    KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    Đặc điểm dân số nghiên cứu

    99 trẻ thoả tiêu chuẩn được chọn vào, trong đó 2/3 là trẻ đủ tháng. Có 20 bà mẹ GBS (+), 79 bà mẹ GBS “không rõ”; 39/79 bà mẹ viêm màng ối lâm sàng; 13/79 bà mẹ có thời gian vỡ ối ≥ 18 giờ; IAP > 4 giờ có 22 bà mẹ, còn lại 77 bà mẹ có IAP < 4 giờ. Có 50/99 trẻ có triệu chứng lâm sàng, triệu chứng gặp nhiều nhất là không dung nạp sữa (36/99) và suy hô hấp cần hỗ trợ oxy (35/99). Không có trẻ nào có cấy máu dương tính, 14 trẻ được chẩn đoán có khả năng nhiễm khuẩn huyết sớm.

    So sánh tỷ lệ khuyến cáo kháng sinh của công cụ Kaiser điều chỉnh với hướng dẫn CDC 2010 thời điểm 0 – 12 giờ sau sanh

    Vào thời điểm tiếp nhận ban đầu (sau sanh – 12 giờ tuổi), công cụ khuyến cáo kháng sinh ít hơn hướng dẫn của CDC 2010 có ý nghĩa thống kê (p=0,000) (bảng 1).

    Bảng 1: so sánh tỷ lệ khuyến cáo kháng sinh của công cụ Kaiser điều chỉnh so với hướng dẫn CDC 2010. N=99, số liệu được trình bày dưới dạng n (%)

    Công cụ Kaiser

    điều chỉnh

    Hướng dẫn CDC 2010 Tổng p
    Kháng sinh Không kháng sinh
    Kháng sinh 40 (40,4) 2 (2,0) 42 (42,4)
    Không kháng sinh 34 (34,4) 23 (23,2) 57 (57,6) 0,000
    Tổng 74 (74,8) 25 (25,2) 99 (100)

    *Chi bình phương

    Quan sát trẻ từ 0 – 12 giờ sau sanh đến khi có chẩn đoán sau cùng, còn lại 14 trẻ tiếp tục được sử dụng kháng sinh với chẩn đoán có khả năng nhiễm khuẩn huyết sớm.

    Trong đó, hướng dẫn CDC 2010 đã khuyến cáo kháng sinh ngay từ đầu cho 14/14 trẻ; công cụ khuyến cáo 13/14 trẻ, còn lại 1 trẻ công cụ khuyến cáo xét nghiệm và theo dõi sát lâm sàng mỗi 4 giờ.

    Ngoại kiểm phần mềm NeoCalc.vn, app Neo Calc

    Ngoại kiểm phần mềm NeoCalc.vn trên 68 trẻ có tuổi thai ≥ 34 tuần tuổi thai, được sanh ra từ bà mẹ có một trong các nguy cơ gồm: sốt hoặc viêm màng ối (chẩn đoán xác định hoặc nghi ngờ), GBS (+), thời gian vỡ ối ≥18 giờ, IAP < 4 giờ; hoặc những trẻ sau sanh – 12 giờ tuổi có biểu hiện lâm sàng liên quan nhiễm khuẩn huyết. Khi sử dụng tỷ lệ hiện mắc 16/1.000 trẻ sanh sống, kết quả có 34 trẻ được chỉ định kháng sinh, 34 trẻ còn lại không kháng sinh.

    Ước tính chi phí

    Ước tính chi phí trung bình cho 1 trẻ nhiễm khuẩn huyết sớm là 10.207.000đ/1 đợt điều trị (bảng 2).

    Bảng 2: Ước tính chi phí điều trị, số ngày nằm viện trung bình cho các trẻ có chỉ định nhập viện, chích kháng sinh (N=34)

    Tổng số ngày điều trị của 34 trẻ chích kháng sinh 414 ngày
    Số ngày điều trị trung bình cho 1 đợt điều trị /trẻ 414/34 (12,176 ngày/trẻ)
    Tổng chi phí điều trị của 34 trẻ 347.062.000đ
    Chi phí điều trị trung bình cho 1 đợt điều trị /1 trẻ 347.062.000/34=10.207.000đ/1đợt

    điều trị /trẻ

    Chi phí điều trị trung bình cho 1 ngày/trẻ 10.207.000/12,176=

    838.346đ/ngày/trẻ

    BÀN LUẬN

    Kết quả nghiên cứu cho thấy, công cụ dự đoán NEOS điều chỉnh giúp giảm 32,6% tỷ lệ kháng sinh so hướng dẫn CDC 2010. Kết quả này phù hợp kết luận của tổng quan hệ thống về hiệu quả giảm chỉ định kháng sinh quá tay của công cụ so với các hướng dẫn đang được áp dụng hiện nay (CDC 20108, AAP5, NICE10)5. Tất cả đều cho thấy kết quả thấp hơn có ý nghĩa của công cụ so với các hướng dẫn trên trong chỉ định kháng sinh.

    Xét về tính an toàn, chúng tôi xét trên 14 trẻ được chẩn đoán có khả năng nhiễm khuẩn huyết sớm. Hướng dẫn CDC 2010 khuyến cáo kháng sinh ngay từ đầu cho 14/14 trẻ. Công cụ khuyến cáo kháng sinh cho 13/14 trẻ, 1 trẻ công cụ khuyến cáo xét nghiệm

    và theo dõi sát lâm sàng trong 4 giờ. Trẻ này được sanh ra từ bà mẹ chẩn đoán viêm màng ối lâm sàng với triệu chứng không dung nạp sữa và lừ đừ kéo dài > 72 giờ, cấy máu âm tính và CRP là 56,84 mg/L. Đây là tình huống thường gặp trên thực hành lâm sàng: 1) trẻ sanh ra từ bà mẹ viêm màng ối lâm sàng, theo CDC sẽ được chỉ định kháng sinh mặc dù trẻ không triệu chứng. Viêm màng ối lâm sàng là 1 chẩn đoán khó đạt được do tiêu chuẩn nghiêm ngặt. Việc chẩn đoán mang tính chủ quan của các bác sĩ sản khoa, khiến những đứa trẻ sanh ra bị chỉ định kháng sinh quá tay mặc dù trẻ không có bất kỳ triệu chứng lâm sàng nào. Cụ thể, trong nghiên cứu của chúng tôi có 39 trẻ sanh ra từ bà mẹ viêm màng ối lâm sàng thì 34/39 trẻ được loại trừ nhiễm khuẩn huyết, ngưng kháng sinh sau 48 giờ và xuất viện an toàn. Tương tự, trong nghiên cứu của N Money và cộng sự trên những trẻ sanh ra từ mẹ viêm màng ối, cho thấy việc khuyến cáo không kháng sinh trên những trẻ không có triệu chứng của các bà mẹ này là an toàn11; 2) triệu chứng lâm sàng đơn thuần như không dung nạp sữa hoặc không dung nạp đường hoặc lừ đừ đều không đặc hiệu. Theo công cụ những trẻ này không thuộc nhóm “bệnh” hoặc “nghi ngờ”, khuyến cáo điều trị sẽ phụ thuộc vào nguy cơ của bà mẹ, nếu nguy cơ đủ cao thì công cụ sẽ khuyến cáo xét nghiệm và theo dõi. Ngược lại, hướng dẫn CDC lại chỉ định kháng sinh cho những trẻ này. Đây là sự khác biệt trong định nghĩa lâm sàng nhiễm khuẩn huyết sớm của hướng dẫn CDC và công cụ. Điều này nhận thấy trong nghiên cứu của chúng tôi, với 36 trẻ không dung nạp sữa thì có 22 trẻ khoẻ mạnh, còn lại 14 trẻ có khả năng nhiễm khuẩn huyết có ≥ 2 triệu chứng cùng lúc. Như vậy, nếu vì 1 triệu chứng không dung nạp sữa đơn thuần để chỉ định kháng sinh thì đã quá tay 36 trẻ khoẻ mạnh.

    Câu hỏi đặt ra liệu với những trẻ lâm sàng không rõ ràng thì việc chỉ định kháng sinh ngay hay trì hoãn kháng sinh bằng cách xét nghiệm kết hợp theo dõi sát lâm sàng và sẽ chỉ định kháng sinh khi lâm sàng không cải thiện hoặc diễn biến xấu hơn thì lựa chọn nào là phù hợp?. So với hướng dẫn CDC 2010 khuyến cáo kháng sinh cho 76 trẻ để bao gồm 14 trẻ có khả năng nhiễm khuẩn huyết hoặc theo công cụ khuyến cáo kháng sinh cho 42 trẻ bao gồm 13/14 trẻ có khả năng nhiễm khuẩn huyết và 1 trẻ khuyến cáo xét nghiệm kết hợp theo dõi sát lâm sàng mỗi 4 giờ thì lựa chọn nào mang lại lợi ích điều trị và lợi ích kinh tế tốt hơn?.

    Ngoại kiểm phần mềm NeoCalc.vn, app Neo Calc

    Ngoại kiểm phần mềm NeoCalc.vn, app Neo Calc trên 68 trẻ từ bà mẹ có nguy cơ hoặc trẻ có biểu hiện lâm sàng trong 12 giờ sau sanh. Nếu theo hướng dẫn của CDC 2010, tất cả 68 trẻ này sẽ được chỉ định kháng sinh, nhưng áp dụng app Neo Calc chỉ có 34 trẻ được điều trị bằng kháng sinh. Như vậy, app Neo Calc đã giúp giảm 50% số trẻ sử dụng kháng sinh so hướng dẫn CDC 2010. 34/68 (50%) trẻ đã tránh được việc nhập viện để điều trị kháng sinh không cần thiết; tất cả được nằm với mẹ, theo dõi lâm sàng và xuất viện an toàn.

    Ước tính hiệu quả chi phí

    Với 34 trẻ nằm viện tốn 347.062.000đ cho 414 ngày điều trị. Tính trung bình sẽ tốn 10.207.000đ/12,176 ngày điều trị (1 đợt). Điều này có thể hiểu, với 1 trẻ chỉ định kháng sinh quá tay, chúng ta đã lãng phí 10.207.000đ. Việc giảm sử dụng kháng sinh không cần thiết, đã mang lại hiệu quả tiết kiệm chi phí cho đơn vị.

    Nghiên cứu của chúng tôi bị hạn chế trong việc xác định trẻ nhiễm khuẩn huyết sớm. Chúng tôi không có mẫu cấy máu dương tính khiến cho chẩn đoán xác định nhiễm khuẩn huyết không đạt được, không có tiêu chuẩn vàng để so sánh. Tuy nhiên, chúng tôi sử dụng tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng theo N Modi với độ đặc hiệu tương đương cấy máu dương tính và độ nhạy tốt hơn thì tiêu chuẩn này có thể chấp nhận được7.

    KẾT LUẬN

    Công cụ dự đoán NEOS hiệu chỉnh (phần mềm NeoCalc.vn) có thể được áp dụng một cách an toàn. Việc áp dụng công cụ giúp giảm tỷ lệ sử dụng kháng sinh không cần thiết, từ đó giúp tiết kiệm chi phí. Tuy nhiên, đây chỉ là công cụ tiếp cận ban đầu, việc theo dõi sát diễn tiến lâm sàng tiếp theo vô cùng quan trọng để tránh bỏ sót trẻ và kịp thời nhận ra được thời điểm diễn biến lâm sàng để chỉ định kháng sinh kịp thời, hợp lí. TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Liu L, Oza S, Hogan D, et al (2016), “Global, regional, and national causes of under-

    5 mortality in 2000–15: an updated systematic analysis with implications for the Sustainable Development Goals”, The Lancet;388(10063):3027-3035.

    1. Puopolo KM, Lynfield R, Cummings JJ (2019), ” Management of Infants at Risk for Group B Streptococcal Disease”, Pediatrics, Aug;144(2):e20191881.
    2. Flidel‐ Rimon O, Galstyan S, Juster‐ Reicher A, Rozin I, Shinwell ES (2012), “Limitations of the risk factor based approach in early neonatal sepsis evaluations”, Acta paediatrica;101(12):e540-e544.
    3. Kiser C, Nawab U, McKenna K, Aghai ZH (2014), “Role of guidelines on length of therapy in chorioamnionitis and neonatal sepsis”, Pediatrics;133(6):992-998.
    4. Achten NB, Klingenberg C, Benitz WE, et al (2019), “Association of use of the neonatal early-onset sepsis calculator with reduction in antibiotic therapy and safety: a systematic review and meta-analysis”, JAMA pediatrics;173(11):1032-1040.
    5. Escobar GJ, Puopolo KM, Wi S, et al (2014), “Stratification of risk of early-onset sepsis in newborns≥ 34 weeks’ gestation”, Pediatrics;133(1):30-36.
    6. Modi N, Doré CJ, Saraswatula A, et al (2009), “A case definition for national and international neonatal bloodstream infection surveillance”, Archives of Disease in Childhood-Fetal and Neonatal Edition;94(1):F8-F12.
    7. Verani JR, McGee L, Schrag SJ (2010), “Prevention of perinatal group B streptococcal disease: revised guidelines from CDC, 2010”, Department of Health and Human Services, Centers for Disease Control.
    8. Puopolo KM, Draper D, Wi S, et al (2011), “Estimating the probability of neonatal early-onset infection on the basis of maternal risk factors”. Pediatrics;128(5):e1155.
    9. Paul SP, Khattak H, Kini PK, Heaton PA, Goel N (2022), “NICE guideline review: neonatal infection: antibiotics for prevention and treatment (NG195)”, Arch Dis Child Educ Pract Ed, Aug;107(4):292-297.
    10. Money, N., et al (2017), “Anti-microbial stewardship: antibiotic use in well- appearing term neonates born to mothers with chorioamnionitis”, Journal of Perinatology 37.12: 1304-1309.