Danh mục: CTUMP

Chuyên mục Trường đại Học Y dược Cần Thơ

  • BÀI 8: SINH LÝ NỘI TIẾT VÙNG HẠ ĐỒI.

     

    I. ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CHỨC NĂNG.

    Vùng hạ đồi (hypothalamus) thuộc não trung gian, có nhiều nơron tập trung thành các nhóm nhân, ví dụ: nhân trên thị, nhân cạnh não thất…. Các nơron vùng hạ đồi có chức năng dẫn truyền xung động thần kinh đồng thời lại có khả năng tổng hợp và bài tiết hormon.

    II. CÁC HORMON GIẢI PHÓNG VÀ ỨC CHẾ CỦA VÙNG HẠ ĐỒI.

    1. Hormon giải phóng GH: (GHRH)
    • Bản chất: polypeptid có 44 acid amin.
    • Nguồn gốc: nhân bụng giữa.
    • Tác dụng: kích thích thùy trước tuyến yên tổng hợp và bài tiết GH.
    • Điều hòa bài tiết: IGF (gan) feedback âm vòng dài, GH (tuyến yên) feedback âm vòng ngắn.
    1. Hormon ức chế GH: GHIH (Growth hormone inhibitory hormone), Somatostatin
    • Bản chất: peptid có 14 acid amin.
    • Nguồn gốc: vùng hạ đồi.
    • Tác dụng: ức chế thùy trước tuyến yên tổng hợp và bài tiết GH.
    • Điều hòa bài tiết: IGF (gan) feedback âm vòng dài, GH (tuyến yên) feedback âm vòng ngắn
    1. Hormon giải phóng TSH: TRH (Thyrotropin releasing hormone)
    • Bản chất: peptid có 3 acid amin.
    • Nguồn gốc: chưa rõ.
    • Tác dụng: kích thích thùy trước tuyến yên tổng hợp và bài tiết TSH.
    • Điều hòa bài tiết: T3-T4 (tuyến giáp) feedback âm vòng dài, TSH (tuyến yên) feedback âm vòng ngắn và chính TRH (vùng hạ đồi) feedback âm vòng cực ngắn.
    1. Hormon giải phóng ACTH: CRH (Corticotropin releasing hormone)
    • Bản chất: polypeptid có 41 acid amin.
    • Nguồn gốc: nhân cạnh não thất.
    • Tác dụng: kích thích thùy trước tuyến yên tổng hợp và bài tiết ACTH.
    • Điều hòa bài tiết: cortisol (tuyến thượng thận) feedback âm vòng dài, ACTH (tuyến yên) feedback âm vòng ngắn. Ngoài ra còn có cơ chế feedback dương từ cortisol khi cơ thể bị stress
    1. Hormon giải phóng FSH và LH: GnRH (Gonadotropin releasing hormone)
    • Bản chất: peptid có 10 acid amin.
    • Nguồn gốc: nhân cung.
    • Tác dụng: kích thích thùy trước tuyến yên tổng hợp và bài tiết FSH và LH mà chủ yếu là LH.
    • Điều hòa bài tiết: hormon sinh dục (tuyến sinh dục) feedback âm vòng dài, LH và FSH (tuyến yên) feedback âm vòng ngắn, GnRH (vùng hạ đồi) feedback âm vòng cực ngắn. Ngoài ra còn có cơ chế feedback dương từ estrogen ở nữ vào thời điểm trước khi phóng noãn.
    1. Hormon ức chế prolactin: PIH (prolactin inhibitory hormone)
    • Bản chất: chưa rõ.
    • Nguồn gốc: chưa rõ.
    • Tác dụng: ức chế thùy trước tuyến yên tổng hợp và bài tiết prolactin.
    • Điều hòa bài tiết: prolactin (tuyến yên) feedback âm.

    III. CÁC HORMON KHÁC.

    Gồm ADH (vasopressin) và oxytocin được tổng hợp từ nhân trên thị và nhân cạnh não thất vùng hạ đồi, sau đó theo bó sợi thần kinh hạ đồi-yên xuống dự trữ ở thùy sau tuyến yên (xem bài sinh lý tuyến yên).

     

  • BÀI 7: ĐẠI CƯƠNG VỀ HOẠT CHẤT SINH HỌC

    CHƯƠNG II: SINH LÍ NỘI TIẾT

    BÀI 7: ĐẠI CƯƠNG VỀ HOẠT CHẤT SINH HỌC

    I. ĐẠI CƯƠNG

    Trong cơ thể động vật đa bào, sự phối hợp giữa các tế bào trong cùng một mô để hoàn thành một chức năng hoặc giữa các tế bào trong các loại mô khác nhau để hoàn thành nhiều chức năng khác nhau được thực hiện thông qua các hệ thống thông tin giữa các tế bào.

    Sự thông tin có thể được thực hiện thông qua các mối liên kết hở (gap junction) giữa các tế bào nằm sát nhau hoặc qua các tín hiệu hóa học (chemical signal) giữa các tế bào xa nhau.

    Các tín hiệu hóa học chính là các hoạt chất sinh học nội sinh tự nhiên trong cơ thể như các hormon hoặc cũng có thể là các hoạt chất sinh học ngoại sinh như thuốc đến tác động lên tế bào đích.

    1. Khái niệm về hệ thống nội tiết và hoạt chất sinh học.

    a/ Hệ thống nội tiết:

    *Khái niệm:

    Hệ thống nội tiết là những tế bào có nhiệm vụ tổng hợp và bài tiết các hoạt chất sinh học vào bên trong cơ thể để điều hòa hoạt động cơ thể thông qua cơ chế thể dịch.

    Hệ nội tiết là một phần của hệ thống nội tiết bao gồm các tuyến nội tiết nhỏ, nằm rải rác, không liên quan về mặt giải phẫu nhưng lại liên quan rất chặt chẽ về mặt chức năng.

    Đặc điểm hệ nội tiết:

    + Nằm rải rác.

    + Kích thước nhỏ:

    + Nhiều loại.

    – Tuyến nội tiết là những tuyến không có ống dẫn, sản phẩm bài tiết (hormon) được đổ thẳng vào máu.

    – Cấu tạo của tuyến nội tiết gồm hai phần: phần chế tiết tạo thành từng đám tế bào có nhiệm vụ tổng hợp và phóng thích hormon, lưới mao mạch phong phú bao bọc xung quanh các tế bào chế tiết có nhiệm vụ tiếp nhận hormon đưa vào hệ thống tuần hoàn.

    Bên cạnh đó, có thể nói tất cả các cơ quan và tế bào trong cơ thể đều làm nhiệm vụ nội tiết dù chúng không thuộc hệ nội tiết. Như vậy, hệ thống nội tiết là toàn bộ các tế bào trong cơ thể.

    • Cơ quan nội tiết riêng.
    • Đám tế bào trong cơ quan.
    • Cơ quan làm chức năng nội tiết.
    • Cơ quan nội tiết mà chức năng chưa rõ.

    b/ Hormone ( tên khác: hoạt chất sinh học/ tín hiệu ngoại bào / chất truyền tin thứ nhất )

    * Khái niệm:

    Là một chất trung gian hoá học được bài tiết vào trong dịch cơ thể bởi một hoặc một nhóm tế bào và có tác dụng sinh học trên mô đích

    – Quan niệm cổ điển:

    + Hormon chung ( General Hormon): Trung gian hoá học – Tuyến nội tiết bài tiết – Máu phân phối – Tác dụng sinh học trên tế bào đích

    – Quan niệm hiện nay:

    + Hormon chung ( General Hormon)

    + Hoạt chất sinh học: Trung gian hoá học – Không do tuyến nội tiết bài tiết – Máu phân phối  – Tác dụng sinh học trên tế bào đích

    + Hormon địa phương (Local hormon): Trung gian hoá học – Không do tuyến nội tiết bài tiếtKhông được máu phân phối – Tác dụng sinh học trên tế bào đích

    Sự khác biệt giữa quan niệm cổ điển và quan niệm hiện đại
    Quan niệm cổ điển Quan niệm hiện đại
    1. Nguồn gốc hẹp: do tuyến nội tiết tiết ra

    2. Phân phối: tiết vào máu

    1. Nguồn gốc rộng: do hệ thống nội tiết tiết ra

    2. Phân phối: tiết vào dịch cơ thể

    *Câu hỏi

    * Cơ chế cận tiết

    * Cơ chế tự tiết

    2. Khái niệm về mô đích và receptor.

    a/ Mô đích

    Mô chịu sự tác động của hormon ( hoạt chất sinh học ) gọi là mô đích

    Mô đích có tính đặc hiệu với receptor

    Những trường hợp đặc biệt:

    – Có những hoạt chất sinh học mà mô đích của nó là tất cả hoặc hầu như tất cả các tế bào của cơ thể, ví dụ: somatomedin (gan), T3, T4 (tuyến giáp).

    – Có thể tuyến nội tiết này lại là mô đích cho hormon của tuyến nội tiết khác, ví dụ: tuyến giáp là mô đích của hormon TSH do tuyến yên tiết ra.

    b/ Receptor. ( thụ thể )

    Thụ thể là những phân tử protein có mặt ở tế bào đích, đóng vai trò tiếp nhận các tín hiệu hóa học ngoại bào với tính đặc hiệu và ái lực cao, qua đó sẽ khởi phát các hoạt động chức năng nhất định của tế bào.

    *Thành phần tiếp nhận hormon ở mô đích

    *Receptor có tính đặc hiệu (chuyên biệt) với hormon

    *Bản chất: protein

    *Về cấu trúc:

    mỗi thụ thể có ít nhất hai nhóm là nhóm điều hòa và nhóm hiệu ứng.

    + Nhóm điều hòa làm nhiệm vụ nhận biết và liên kết với hoạt chất sinh học.

    + Nhóm hiệu ứng có tác dụng gây ra hiệu quả đầu tiên trên tế bào đích.

    *Số lượng: 2.000-100.000/tế bào. Điều chỉnh số lượng tăng hoặc giảm tuỳ theo loại hormon

    *Vị trí: thụ thể nằm trong màng tế bào, trong bào tương, trong nhân.

    + Thụ thể nằm trên màng tế bào đích: tiếp nhận hoạt chất sinh học tan trong nước như các hormon peptid và catecholamin.

    + Thụ thể nằm trong bào tương tế bào đích: tiếp nhận hoạt chất sinh học tan trong dầu như hormon steroid.

    + Thụ thể nằm trong nhân tế bào đích: tiếp nhận hoạt chất sinh học tan trong dầu như hormon T3, T4.

    3. Khái niệm về ligand, ái lực và hiệu lực.

    * Khái niệm về ligand ( phối tử)

    Bất cứ một phân tử tín hiệu nào có khả năng gắn vào thụ thể với độ đặc hiệu cao do sự tương đồng về cấu trúc đều được gọi là ligand.

    – Nếu phân tử sau khi gắn với thụ thể dẫn đến một đáp ứng sinh lý của tế bào thì được gọi là agonist (chất chủ vận hay đồng vận).

    – Nếu phân tử sau khi gắn với thụ thể mà không gây ra một đáp ứng nào cả sẽ được gọi là antagonist (chất đối kháng), chúng làm cản trở tác động của chất đối kháng (agonist) bằng cách chiếm lấy thụ thể của nó.

    * Khái niệm về ái lực và hiệu lực

    – Khả năng gắn của hoạt chất sinh học vào thụ thể phụ thuộc vào ái lực (affinity) của nó với thụ thể.

    + Hai chất có cùng thụ thể, chất nào có ái lực cao hơn sẽ đẩy được chất kia ra.

    – Tác dụng của hoạt chất sinh học là do hiệu lực (efficacy) của nó trên thụ thể đó quyết định.

    => Ái lực và hiệu lực không phải lúc nào cũng đi đôi nhau:

    Vd:

    1. acetylcholin là chất truyền đạt thần kinh của hệ phó giao cảm, khi gắn vào thụ thể muscarinic, gây hiệu lực làm tăng tiết nước bọt, co đồng tử, chậm nhịp tim…; atropin có ái lực trên thụ thể muscarinic mạnh hơn acetylcholin nên đẩy được acetylcholin ra khỏi thụ thể muscarinic, nhưng bản thân nó lại không có hiệu lực gì.

    => acetylcholine: agonist / atropine: antagonist

    * Câu hỏi:

    II. PHÂN LOẠI VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA HOẠT CHẤT SINH HỌC.

    1. Phân loại hoạt chất sinh học.

    – Phân loại theo nguồn gốc: hoạt chất sinh học nội sinh và ngoại sinh

    + Hoạt chất sinh học nội sinh: do chính cơ thể tổng hợp và bài tiết.

    Có hai loại là hoạt chất sinh học của các tuyến nội tiết còn được gọi là các hormon chung (general hormone) theo quan niệm cổ điển và hoạt chất sinh học không phải của tuyến nội tiết là những hormon không do tuyến nội tiết chế tiết.

    + Hoạt chất sinh học ngoại sinh: được đưa từ bên ngoài cơ thể vào. Thuốc là một loại hoạt chất sinh học ngoại sinh.

    – Phân loại theo bản chất hóa học:

    + Hoạt chất sinh học peptid: là các hoạt chất sinh học có bản chất là peptid hoặc protein.

    • Các hoạt chất sinh học này có thể chỉ là một chuỗi peptid hoặc nhiều chuỗi peptit được liên kết nhau bằng cầu nối disulfur (-S-S-).
    • Một số hoạt chất sinh học có thêm gốc carbohydrat tạo thành glycoprotein (như: FSH, TSH, LH, IICG…).
    BẢNG QUI ƯỚC
    1 acid amin acid amin
    2-20 acid amin peptid
    21-100 acid amin polypeptide
    >100 acid amin protein

    + Hoạt chất sinh học acid amin: là các dẫn xuất của acid amin như:

    • Dẫn xuất của acid amin tyrosine: hormon tuyến giáp (T3, T4), hormon tủy thượng thận (catecholamine). ( quan trọng)
    • (Tham khảo) Dẫn xuất của acid amin tryptophan như melatonin, serotonin.
    • (Tham khảo)Dẫn xuất của acid amin histidine như histamin; dẫn xuất của acid amin glutamic như GABA.

    + Hoạt chất sinh học lipid: là các dẫn xuất của lipid như:

    Dẫn xuất của acid béo, thường là các hormon địa phương;

    Dẫn xuất của steroid như: hormon vỏ thượng thận (mineralocorticoid, glucocorticoid, hormon sinh dục), hormon sinh dục (buồng trứng, nhau thai: estrogen, progesteron, tinh hoàn: testosteron), hormon của da – gan – thận (vitamin D3).

    – Phân loại theo tính tan:

    Tan trong nước Tan trong dầu
    peptid, catecholamine, các chất truyền đạt thần kinh. hormon steroid, hormon T3-T4.
    Đặc điểm Đặc điểm
    – Vận chuyển dưới dạng tự do – Vận chuyển dưới dạng kết hợp (lipolipid)
    – Bị phân hủy sau khi giải phóng – Tồn tại lâu trong máu
    – Tồn tại:vài giây hoặc vài mili giây – Vài giờ đến vài ngày
    – Tạo ra các đáp ứng nhanh =>chỉ cần thiết trong một thời gian ngắn. – Tạo đáp ứng chậm hơn nhưng kéo dài hơn

    (1)

    – Phân loại theo nơi tác động:

    + Tác động tại chỗ: hầu hết tế bào trong cơ thể đều có khả năng tiết ra loại tín hiệu gọi là các chất trung gian hóa học tại chỗ (local chemical mediator).

    • Chúng là các hormon địa phương (như histamin, prostaglandin) hoặc chất truyền đạt thần kinh.
    • Chúng thường được tiết vào dịch kẽ và chỉ tác động trên các tế bào lân cận theo phương thức cận tiết hoặc lên chính tế bào đã tiết ra chúng theo phương thức tự tiết.

    + Tác động ở xa: các tuyến nội tiết hoặc các cơ quan không phải là tuyến nội tiết

    có thể tiết ra các chất đặc hiệu là các hormon chung (general hormon) hoặc các hoạt chất sinh học khác.

    • Chúng được tiết vào máu và theo dòng máu đến tác động lên các tế bào đích ở xa nơi tiết ra.
    • Do phải di chuyển xa như vậy nên tín hiệu thuộc loại này được truyền đi hơn nhiều so với các chất tác động tại chỗ.

    * Các loại hormone:

    2. Sinh học tổng hợp, bài tiết và vận chuyển hoạt chất sinh học trong máu.

    a. Hormone peptide.

    – Hoạt chất sinh học peptid được tổng hợp thông qua quá trình sinh tổng hợp protein với nguyên liệu là các acid amin.

    Quá trình này diễn ra trong nhân (sao mã), ribosom (dịch mã), sản phẩm tạo thành là preprohormone sẽ được đưa vào mạng lưới nội bào tương có hạt. Tại đây, preprohormone được chuyển thành prohormon và đưa đến bộ golgi.

    => Quá trình diễn ra : nhân->mạng lưới nội bào tương->bộ Golgi

    – Tại bộ golgi, dạng hoạt động của hormon được hình thành và dự trữ sẵn đủ để đáp ứng nhanh chóng cho các kích thích gây bài tiết.

    – Các kích thích này cũng đồng thời xúc tiến việc tạo hoạt chất mới.

    b. Hormon acid amin.

    Hormon tủy thượng thận (catecholamine) và melatonin: là những amin được tạo thành trong tế bào chế tiết từ sự chuyển hóa acid amin.

    + Sau khi tổng hợp sẽ được hấp thu vào các túi có sẵn trong bào tương dự trữ đến khi bài tiết.

    + Kích thích gây bài tiết hormon cũng đồng thời kích hoạt các enzym trong chuỗi phản ứng tạo các hormon mới.

    Hormon giáp trạng (T3, T4): đầu tiên được tạo thành trong tế bào nang giáp.

    + Sau đó đưa vào trong lòng nang đến gắn lên một phân tử protein lớn gọi là thyroglobulin và được dự trữ ở đó.

    + Khi bài tiết, những hệ thống enzym chuyên biệt trong tế bào chế tiết sẽ phân cắt thyroglobulin tạo ra hormon và bài tiết vào

    c. Hormone steroids.

    – Nguyên liệu để tổng hợp là cholesterol được cung cấp chủ yếu từ Cholesterol hoặc Acetyl CoA (Cholesterol cung cấp chủ yếu từ LDL)

    – Quá trình tổng hợp diễn ra tại mạng lưới nội bào tương trơn.

    – Dạng hoạt động được tạo thành và dự trữ với số lượng rất ít mà chủ yếu là các phân tử tiền chất hiện diện trong tế bào chế tiết.

    – Khi có một kích thích thích hợp, các enzym trong vòng vài phút sẽ tạo các phản ứng hóa học cần thiết biến dạng tiền chất thành dạng hoạt động và sau đó bài tiết ra ngoài.

    => Nhận xét:

    • Hormon peptida và catecholamine: tổng hợp và dự trữ sẵn, bài tiết nhanh
    • Hormon T3, T4 và hormon steroid: tổng hợp và dự trữ dưới dạng tiền chất, bài tiết chậm

    3. Vận chuyển hormon trong máu:

    * 2 dạng vận chuyển:

    – Dạng tự do: dạng tác dụng

    – Dạng kết hợp: dạng dự trữ (dễ phân ly)

    * 2 protein vận chuyển:

    – Protein vận chuyển đặc hiệu: Globulin

    – Protein vận chuyển chung: Albumin

    * Ý nghĩa dạng kết hợp:

    – Vận chuyển

    – Tránh bị lọc ở thận

    – Dự trữ (đệm)

    III. CƠ CHẾ TÁC DỤNG CỦA HOẠT CHẤT SINH HỌC.

    1. Cơ chế tác dụng thông qua chất truyền tin thứ hai.

    + Các hoạt chất sinh học tác dụng theo cơ chế này là những tín hiệu hóa học tan được trong nước như các hormon peptid và catecholamin.

    + Các chất này không tan trong dầu nên không qua được lớp lipid kép của màng bào tương tế bào, do vậy cần có chất truyền tin thứ hai trong tế bào (tín hiệu nội bào).

    + Thụ thể đặc hiệu nằm ở màng bào tương tế bào đích.

    + Prostaglandin là một trường hợp ngoại lệ bởi nó là hoạt chất sinh học tan trong dầu với bản chất là acid béo không no nhưng lại có thụ thể nằm ở màng bào tương tế bào đích.

    * Cơ chế thực hiện:

    Rút gọn quá trình:

    Hoạt chất sinh học ( chất truyền tin thứ I ) gắn với thụ thể đặc hiệu => phức hợp=> dẫn đến sự xuất hiện chất truyền tin thứ 2 ( là 1 enzyme) rồi hoạt hóa một chuỗi enzyme theo kiểu dây chuyền hoặc dòng thap để tạo thành đáp ứng sinh lý cuối cùng

    ( chi tiết về cơ chế )

    ( Câu Hỏi)

    Các đáp ứng sinh lý (hưng phấn hoặc ức chế) có thể là thay đổi tính thấm của màng tế bào, co hoặc giãn cơ, tổng hợp protein, kích thích tế bào bài tiết chất… Đáp ứng sinh lý thường xảy ra nhanh nhưng ngắn.

    -Lý do:

    +Tính đặc hiệu của receptor

    +Bản chất, số lượng hệ thống enzym

    -Đáp ứng sinh lý: thay đổi tính thấm màng tế bào, co hoặc dãn cơ, tổng hợp protein, bài tiết

    Câu hỏi ứng dụng

    2. Cơ chế tác dụng thông qua hoạt hóa gen tế bào.

    Các hoạt chất sinh học tác dụng theo cơ chế này là những tín hiệu hóa học tan trong dầu như các hormon steroid và hormon T3, T4.

    Các chất này có tính chất hòa tan trong dầu, không tan trong nước nên đi qua được lớp lipid kép của màng tế bào, do vậy không cần chất truyền tin thứ hai.

    Thụ thể đặc hiệu có thể nằm trong bào tương như đối với hormon steroid hoặc nằm trong nhân như đối với hormon T3, T4 của tế bào đích

    Hormon peptid và catechomin Hormon steroid và T3-T4
    Tan Nước Lipid
    Tổng hợp – dự trữ Hormon Tiền hormon
    bài tiết Nhanh Chậm
    Vận chuyển dạng tự do Dạng kết hợp
    Thụ thể nằm trong Màng tế bào Trong tế bào
    Tác dụng Chất truyền tin thứ 2 Gen
    Cơ chế tác dụng Nhanh, ngắn Chậm, dài

    – Hormon tan trong lipid: steroid và T3-T4

    • Receptor nằm trong bào tương hoặc trong nhân tế bào

    => Nhận xét

    – Hormon peptida và catecholamine

    • Tác dụng thông qua chất truyền tin thứ hai
    • Tác dụng nhanh, ngắn

    -Hormon steroid và T3-T4

    • Tác dụng trên hệ thống gen tế bào
    • Tác dụng chậm, dài

    3. Đặc điểm tác dụng của hormone

    Tác dụng đặc hiệu trên mô đích với một lượng rất thấp. Tăng: ưu năng, giảm: nhược năng

    Điều hòa cấp thời và lâu dài theo 2 cơ chế

    Một hormon có thể tác dụng trên một số mô đích tạo nên đáp ứng tổng thể của hormon

    Nhiều hormon có thể cùng điều hoà một quá trình

    Một hormon có thể điều hoà nhiều khâu của một quá trình

    Phối hợp hoạt động với protein

    Hormon có bản chất protein có thể gây tạo kháng thể

    Hormon có tác dụng điều hoà ngược (feedback)

    IV. ĐIỀU HÒA BÀI TIẾT HOẠT CHẤT SINH HỌC.

    1. Điều hòa bài tiết theo trục vùng hạ đồi – tuyến yên – tuyến nội tiết.

    Đây là cơ chế điều hòa bài tiết căn bản mà trong trong đó vùng hạ đồi giữ vai trò trung tâm, chỉ huy sự bài tiết hormon của tuyến yên.

    Tuyến yên, đến lượt mình lại chỉ huy sự bài tiết hormon của một cơ quan nội tiết khác.

    Một số hormon được điều hòa bài tiết theo trục vùng dưới đồi-tuyến yên-tuyến nội tiết.

    Ví dụ:

    • Trục vùng dưới đồi-tuyến yên-tuyến giáp: TRH→TSH→T3-T4.
    • Trục vùng dưới đồi-tuyến yên-vỏ thượng thận: CRH→ACTH→Cortisol.
    • Trục vùng dưới đồi-tuyến yên-tuyến sinh dục: GnRH→FSH,LH→hormon sinh dục.

    2. Điều hòa bài tiết theo nhịp sinh học.

    Hormon không phải được bài tiết liên tục với một nồng độ nhất định có khi nhiều khi ít, có hormon được bài tiết gián đoạn từng lúc theo nhịp sinh học.

    Ví dụ:

    Trục vùng dưới đồi – tuyến yên – vỏ thượng thận: CRH→ACTH→Cortisol.

    ACTH được bài tiết theo chu kỳ cao nhất vào buổi sáng (8h sáng) và giảm dần vào buổi chiều, nên cortisol được bài tiết nhiều nhất lúc 9 giờ sáng.

    *Câu hỏi quan trọng(1)

    * Câu hỏi (2)

    Trục vùng dưới đồi – tuyến yên – tuyến sinh dục: GnRH→FSH,LH→hormon sinh dục.

    Sau khi sinh đến trước dậy thì, vùng dưới đồi chưa tiết GnRH nên tuyến yên không bài tiết FSH và LH, tuyến sinh dục chưa tiết hormon sinh dục. Hoạt động của trục này chỉ xảy ra sau tuổi dậy thì.

    Ở nữ, sau tuổi mãn kinh hoạt động của trục này cũng thay đổi.

    3. Điều hòa bài tiết do tác nhân kích thích.

    – Tác nhân kích thích có thể là thần kinh, hormon khác hoặc các tác nhân vật lý, hóa học.

    Ví dụ:

    • Nồng độ glucose trong máu cao kích thích bài tiết insulin.
    • Kích thích thần kinh giao cảm gây bài tiết PTH.

    4. Điều hòa bài tiết theo cơ chế feedback.

    Quan trọng, 2 kiểu feedback:

    – Feedback âm: thường gặp, chủ yếu

    – Feedback dương: ít gặp, tạm thời

    a. Cơ chế feedback âm

    – Hormon sau khi được bài tiết ra sẽ gây đáp ứng sinh học trên tế bào đích, độ lớn của các đáp ứng sẽ được theo dõi, kiểm tra bởi tế bào nội tiết:

    • Nếu đáp ứng quá nhỏ, tế bào nội tiết sẽ gia tăng sản xuất và bài tiết hormon.
    • Nếu đáp ứng quá lớn, tế bào nội tiết sẽ giảm bài tiết hormon để đưa đáp ứng trở về giới hạn bình thường.
    • Đây là cơ chế điều hòa chủ yếu, nhanh nhậy nhằm duy trì hằng định nồng độ hormon.

    BÀI TẬP: TÍNH CƠ CHẾ FEEDBACK ÂM NHIỀU CẤP

    (BẢNG NHÁP )

    Lưu ý:

    – TRH nếu cao thì sẽ không còn gì feedback nên nó phải tự feedback và feedback lên vùng hạ đồi nên mới tạo feedback(-) vòng cực ngắn

    – Còn T3-T4; TSH không tạo vòng cực ngắn vì vẫn còn chất feedback lên ( có chân)

    Câu hỏi: trên vùng hạ đồi có receptor của ai?

    Trả lời: có cả 3

    Câu khác: trên tuyến yên có receptor của ai?

    Trả lời: có của T3-T4 và TRH, không có của TSH lí do TSH ko có feedback âm vòng cực ngắn lại với tuyến yên như TRH

    (tương tự với tuyến giáp)

    b. Cơ chế feedback dương.

    • Cơ chế feedback dương rất ít gặp.
    • Về bản chất feedback dương sẽ làm mất sự ổn định của nồng độ hormon nhưng lại rất cần thiết
    • Chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn sau đó quay lại kiểu feedback âm bình thường.

    Có 2 lần xảy ra feedback dương trong cơ thể:

    • (1) Feedback dương trong buồng trứng- (sinh lý 2)
    • (2) Cơ chế feedback dương xảy ra khi cơ thể bị stress – giúp cơ thể chống stress=> Hết stress quay lại feedback âm.

    V. THOÁI HÓA HORMON CHỐNG VÀ KHÁNG HORMON:

    * Thoái hoá:

    – Hormon steroid: ở gan

    – Hormone peptide: mô đích, thận, gan

    – Hormon địa phương: mô đích

    * Chống hormon và kháng hormon:

    – Chống hormon: tác dụng ngược lại hormon

    – Kháng hormon: kháng thể kháng hormone

    VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU NỘI TIẾT

    Cổ điển:

    – Cắt bỏ tuyến

    – Ghép tuyến hoặc tiêm chiết xuất của tuyến

    – Nghiên cứu các rối loạn chức năng bằng LS và CLS

    Hiện đại: các kỹ thuật nhạy và chính xác cao như RIA, chụp hình phóng xạ, đo nhấp nháy lỏng, miễn dịch huỳnh quang…

     

  • SINH LÝ DỊCH CƠ THỂ

    SINH LÝ DỊCH CƠ THỂ

    1. ĐẠI CƯƠNG VỀ DỊCH CƠ THỂ

    Ở người trưởng thành 50-60% trọng lượng cơ thể là dịch.

    1.1. Phân bố dịch cơ thể

    Dịch của cơ thể được phân bố trong hai ngăn chính:

    + Dịch nội bào (ICF: Intracellular fluid): là lượng dịch nằm trong các tế bào chiếm 2/3 tổng lượng dịch cơ thể.

    + Dịch ngoại bào (ECF: Extracellular fluid): là tất cả các dịch nằm ngoài tế bào chiếm 1/3 tổng lượng dịch cơ thể.

      • Dịch kẽ: 3 /4 tổng lượng dịch ngoại bào
      • Huyết tương: 1 /4 tổng lượng dịch ngoại bào

    => NĐTT: nồng độ thẩm thấu.

    1.2. Thành phần dịch cơ thể

    Dịch trong cơ thể gồm dung môi là nước và các chất hòa tan được phân thành hai nhóm chính là chất điện giải và chất không điện giải. Về mặt khối lượng, chất không điện giải chiếm tỷ lệ lớn hơn chất điện giải nhưng tính chất thẩm thấu của dịch cơ thể lại được quyết định bởi thành phần điện giải. Sự khác biệt giữa ICF và ECF là ECF chứa chủ yếu các chất dinh dưỡng như oxygen, glucose, acid béo, acid amin, một lượng lớn Na + , Cl- và HCO3 – , ngoài ra ECF cũng chứa một lượng lớn CO2 và các sản phẩm chuyển hóa của tế bào, sẽ được chuyển đến phổi hoặc thận để được bài xuất ra ngoài; còn ICF chứa chủ yếu là K + , Mg 2+ , phosphat.

    Dịch ngoại bào: Na+, Cl-, HCO3-

    Dịch nội bào: K+,

    2. NỘI MÔI

    2.1. Khái niệm nội môi

    • Tất cả các tế bào đều tiến hành các hoạt động của mình trong một môi trường thống nhất là dịch ngoại bào nên dịch ngoại bào còn được gọi là môi trường bên trong cơ thể hay nội môi.

    2.2. Hằng tính nội môi (Homeostasis)

    • Hằng tính nội môi là duy trì các trạng thái hoặc điều kiện hằng định trong nội môi.
    • Việc duy trì hằng tính nội môi đóng một vai trò vô cùng quan trọng bởi nó là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của các tế bào.
    • Tuy nhiên, nội môi cũng cần được liên tục đổi mới và tuần hoàn.
    • Do vậy, hằng tính nội môi được quyết định bởi hoạt động của 3 hệ thống:
    • Hệ thống tiếp nhận,
    • Hệ thống vận chuyển
    • Hệ thống bài tiết.

    2.2.1. Hệ thống tiếp nhận

    Hệ thống này đảm bảo sự ổn định đầu vào cho các thành phần dịch ngoại bào, bao gồm:

    – Hệ hô hấp: đảm bảo cung cấp đủ lượng O2 cho tế bào.

    – Hệ tiêu hóa: cung cấp các chất dinh dưỡng cho cơ thể bao gồm glucose, acid béo, acid amin, các ion, vitamin…

    – Gan: không phải tất cả các chất hấp thu ở đường tiêu hóa đều được tế bào sử dụng. Gan sẽ làm thay đổi thành phần hóa học của chất này thành những dạng thích hợp cho tế bào hoặc dự trữ một số chất khi thừa.

    – Các mô khác như mô mỡ, niêm mạc đường tiêu hóa, thận và tuyến nội tiết: giúp thay đổi các chất được hấp thu, dự trữ nó theo nhu cầu cơ thể.

    2.2.2. Hệ thống vận chuyển

    Hệ thống này đảm bảo cho dịch ngoại bào được tuần hoàn khắp cơ thể, bao gồm: tim và mạch. Sự lưu chuyển được thực hiện liên tục theo 2 chiều:

    – Từ nơi tiếp nhận các chất dinh dưỡng đến các mô.

    – Từ các mô đến nơi đào thải các sản phẩm chuyển hóa.

    2.2.3. Hệ thống bài tiết

    Hệ thống này đảm bảo sự ổn định đầu ra cho các thành phần dịch ngoại bào, bao gồm:

    – Hệ hô hấp: qua hoạt động thông khí, phổi đào thải CO2 ra ngoài.

    – Hệ tiết niệu: qua hoạt động bài tiết nước tiểu, thận đào thải hầu hết các sản phẩm chuyển hóa không cần thiết hoặc các chất có nồng độ vượt quá yêu cầu của cơ thể.

    – Hệ tiêu hóa: qua hoạt động tiêu hóa, ruột đào thải một số sản phẩm chuyển hóa ra ngoài dưới dạng phân.

    – Da: da vừa làm nhiệm vụ bảo vệ cơ thể vừa là cơ quan bài tiết. Da cũng tham gia vào quá trình thải nhiệt góp phần điều hòa thân nhiệt.

    2.3. Các khoang dịch ngoại bào

    2.3.1. Huyết tương

    – Khái niệm: huyết tương là thành phần lỏng của máu, chiếm 5% trọng lượng

    cơ thể. Như vậy, huyết tương là thành phần của ECF nằm trong lòng mạch.

    – Chức năng của huyết tương:

    + Protein của huyết tương cao gấp ba lần của dịch kẽ, 7,3g/dL, gồm: albumin,

    globulin (ai,, Ơ2, P1, |3:_ Y), fibrinogen. Do có kích thước phân tử lớn, các protein

    không thấm qua các lỗ nhỏ của thành mao mạch, tạo ra một lực thẩm thấu vào khoảng

    28mmHg, gọi là áp suất keo, áp suất này có khuynh hướng kéo nước vào mao mạch,

    đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất qua thành mao mạch.

    + Ngoài ra, huyết tương còn có chức năng điều hòa thăng bằng kiềm toan,

    đông máu, bảo vệ cơ thể, vận chuyển các chất…

    2.3.2. Dịch kẽ

    – Khái niệm: dịch kẽ là dịch nằm trong khoảng kẽ giữa các tế bào, là thành

    phần ECF ở bên ngoài hệ thống mạch, chiếm khoảng 15% tổng trọng lượng cơ thể.

    – Chức năng của dịch kẽ: cung cấp oxy và các chất dinh dưỡng cho tế bào

    đồng thời nhận của các tế bào CO2 và các sản phẩm chuyển hóa để chuyển thải ra

    ngoài.

    2.3.3. Dịch bạch huyết

    – Khái niệm: dịch bạch huyết là dịch kẽ chảy vào hệ thống bạch mạch, đổ vào

    tĩnh mạch qua ống ngực và ống bạch huyết phổi.

    – Chức năng của dịch bạch huyết:

    + Khoảng 2/3 bạch huyết của cơ thể xuất phát từ gan và ruột nên đây là một

    trong những con đường chủ yếu để hấp thu các chất dinh dưỡng từ ống tiêu hóa, đặc

    biệt hấp thu mỡ.

    + Dịch bạch huyết cũng sẽ đưa trở lại hệ thống tuần hoàn một lượng protein

    và dịch từ dịch kẽ. Vì vậy hệ bạch huyết đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát

    nồng độ protein trong dịch kẽ, thể tích và áp suất dịch kẽ. Thành phần protein của

    dịch bạch huyết tương tự như dịch kẽ, nồng độ protein khoảng 2g/dL thay đổi tuỳ cơ

    quan như: của gan khoảng 6g/dL, của ruột khoảng 3-4g/dL; của ống ngực là 3-5g/dL.

    + Bạch cầu lympho đi vào hệ thống tuần hoàn chủ yếu qua đường bạch huyết

    vì vậy có một số bạch cầu lympho trong bạch huyết của ống ngực.

    2.3.4. Dịch não tủy

    – Khái niệm:

    + Dịch não tủy là dịch trong các não thất, bể chứa quanh não, các khoang dưới màng nhện và tủy sống. Các khoang này lưu thông với nhau và áp suất dịch não tủy được điều hòa ở mức hằng định. Mỗi ngày có khoảng 500 mL dịch não tủy được bài tiết từ các đám rối màng mạch của các não thất, chủ yếu là hai não thất bên và màng ống nội tủy, màng nhện, ngoài ra một phần do não bài tiết qua các khoang quanh mạch đi vào trong não.

    + Hàng rào máu-não và hàng rào máu-dịch não tủy: màng các mao mạch trong não tạo thành 2 hàng rào:

    . Hàng rào máu-não: là màng ngăn giữa máu và dịch kẽ của mô não trừ một số vùng như hạ đồi, tuyến yên và postrema. Đây là nơi trực tiếp thực hiện chức năng dinh dưỡng của các mạch não.

    . Hàng rào máu-dịch não tủy: là màng ngăn giữa máu và dịch não tủy hay chính là màng của các đám rối màng mạch trong các não thất. Đây là nơi bài tiết ra dịch não tủy.

    – Tính chất của hàng rào máu-não và hàng rào máu-dịch não tủy: khác với thành các mao mạch ở những nơi khác trong cơ thể là tế bào nội mô mao mạch não được kết nối với nhau chứ không đứng cách nhau tạo thành các lỗ lọc. Do vậy tính thấm của các hàng rào cũng khác tính thấm của màng mao mạch ở những nơi khác và thành phần dịch não tủy, dịch kẽ của nhu mô não khác với dịch ngoại bào ở những nơi khác.

    Cụ thể tính thấm của các hàng rào như sau: tính thấm cao với nước, CO2, O2 và các chất hòa tan trong dầu như rượu, các chất gây mê; ít thấm với các ion như Na + , Cl – , H + và hầu như không thấm với protein và các phân tử hữu cơ có kích thước lớn. Như vậy, các kháng thể và các thuốc không hòa tan trong dầu không vào được dịch não tủy và nhu mô não.

    Do tính chất như vậy nên dịch não tủy là dịch không màu, tỉ trọng khoảng 1.005, thành phần: hầu như không có protein (20- 30mg/dL), không có tế bào (5BC lympho/mm 3 ), nồng độ ion Na+ tương đương với huyết tương, nồng độ Cl – cao hơn 15%, nồng độ K+ thấp hơn 40% và nồng độ glucose thấp huyết tương hơn 30%.

    – Chức năng của dịch não tủy:

    + Chức năng chính của dịch não tủy là đệm cho não trong hộp sọ cứng (não nổi trong dịch).

    + Dịch não tủy cũng đóng vai trò của một bình chứa để thích nghi với những thay đổi thể tích của hộp sọ: nếu thể tích não hoặc thể tích máu tăng lên, lượng dịch não tủy được hấp thu vào máu tĩnh mạch sẽ tăng lên và ngược lại.

    2.3.5. Các khoang dịch khác

    – Dịch nhãn cầu: là dịch nằm trong ổ mắt và giữ cho ổ mắt luôn căng ra. Trong ổ mắt, thủy dịch liên tục được tạo ra và được tái hấp thu. Sự cân bằng giữa bài tiết và tái hấp thu của thủy dịch có tác dụng điều hòa thể tích và áp suất của nhãn cầu (15mmHg).

    – Dịch trong các khoang tiềm ẩn như khoang phúc mạc, khoang màng phổi, khoang màng tim, bao hoạt dịch: có vai trò giúp các màng bao trượt lên nhau dễ dàng tạo điều kiện thuận lợi cho sự cử động của các tạng.

    3. ĐIỀU HÒA HOẠT ĐỘNG CƠ THỂ BẰNG CƠ CHẾ THỂ DỊCH

    Điều hòa hoạt động cơ thể bằng cơ chế thể dịch là điều hòa thông qua các tính chất của dịch với hai thành phần là nước và các chất hòa tan. Như vậy, điều hòa bằng cơ chế thể dịch có thể là điều hòa bằng:

    – Các tính chất chất chung của dịch: thể tích dịch, pH của dịch, các áp suất của dịch.

    – Thành phần và nồng độ các chất có trong dịch: các chất khí, ion, chất dinh dưỡng, các sản phẩm của quá trình chuyển hóa và đặc biệt là các hoạt chất sinh học như các hormon.

    Giữa các tính chất của dịch và hoạt động của các cơ quan trong cơ thể có mối quan hệ qua lại rất chặt chẽ, mọi sự thay đổi ở một trong hai bên đều dẫn đến sự thay đổi ở phía bên kia và từ đó điều hòa ngược trở lại tạo ra sự ổn định. Nói cách khác, điều hòa hoạt động của các cơ quan trong cơ thể bằng cơ chế thể dịch cũng chính là để điều hòa các tính chất của dịch.

    3.1. Điều hòa thể tích dịch

    Thể tích dịch trong từng ngăn và trong toàn cơ thể luôn được giữ ổn định thông qua quá trình xuất nhập nước và tái phân bố nước giữa các ngăn, các vùng.

    3.1.1. Quá trình xuất nhập nước

    Quá trình xuất nhập nước được kiểm soát thông qua hoạt động của hệ nội tiết với vai trò của hormon chống bài niệu ADH-antidiuretic hormone, hệ thống RAA (renin-angiotensin-aldosterone), các peptide lợi niệu NP- natriuretic peptid… và hệ thần kinh với vai trò của cảm giác khát.

    Thông qua các cơ chế này, hệ tiêu hóa và tiết niệu sẽ hoạt động làm cho lượng nước cơ thể liên tục dao động trong một giới hạn rất nhỏ (khoảng 1%) giữa trạng thái hơi thừa nước và trạng thái hơi thiếu nước.

    3.1.2. Tái phân bố nước giữa các ngăn dịch và các vùng

    – Tái phân bố nước giữa các ngăn dịch: nước có thể khuếch tán qua lại giữa các ngăn dịch một cách dễ dàng và nhanh chóng do đó mọi sự thay đổi về thể tích ở một ngăn sẽ dẫn đến sự chia đều cho các ngăn còn lại.

    Các áp suất chủ yếu ảnh hưởng lên sự di chuyển của nước là áp suất thủy tĩnh và áp suất thẩm thấu. Áp suất thủy tĩnh có tác dụng đẩy nước đi; trong khi áp suất thẩm thấu có tác dụng kéo nước lại, áp suất keo là một dạng áp suất thẩm thấu đặc biệt do protein tạo ra. Ví dụ: cân bằng Starling là lực quyết định sự trao đổi qua màng mao mạch. Theo Starling, bình thường có một trạng thái cân bằng: lượng dịch tiết ra khỏi tuần hoàn hệ thống (qua mao mạch) = lượng dịch hấp thu vào tuần hoàn (mao mạch và hệ bạch mạch).

    Như vậy, ở mao động mạch, dịch bị đẩy ra khỏi mao mạch với áp suất lọc là 13mmHg; ở mao tĩnh mạch, dịch được hút từ khoảng kẽ vào mao mạch với áp suất tái hấp thu là 7mmHg. Lượng dịch được tái hấp thu trở lại mao mạch chỉ bằng 9/10 lượng dịch lọc, 1/10 còn lại sẽ được hệ bạch mạch thu nhận.

    Khi xảy ra trường hợp bất thường:

    + Cản trở tuần hoàn bạch mạch.

    + Thay đổi các áp suất: tăng áp suất thủy tĩnh mao mạch, giảm áp suất keo huyết tương.

    Những bất thường có thể riêng lẻ hoặc phối hợp nhiều cơ chế dẫn đến một lượng dịch thặng dư không hấp thu hết vào hệ thống tuần hoàn mà ứ đọng trong khoang kẽ, gây ra hiện tượng phù.

    – Tái phân bố nước giữa các vùng: nước còn có thể di chuyển từ vùng này đến vùng khác để đảm bảo hoạt động của các cơ quan quan trọng trong cơ thể. Ví dụ: khi thể tích tuần hoàn giảm, một lượng máu dự trữ trong gan sẽ được bổ sung vào vòng đại tuần hoàn để duy trì huyết áp, hoặc khi thể tích máu tăng sẽ tác động lên các áp cảm thụ quan ở xoang động mạch cảnh làm giảm lượng máu lên não.

    3.2. Điều hòa thăng bằng kiềm toan

    Hầu hết các phản ứng chuyển hóa trong cơ thể muốn xảy ra luôn đòi hỏi một pH thích hợp, trong khi đó phần lớn các sản phẩm chuyển hóa lại có tính acid làm cho pH có khuynh hướng giảm xuống. Ví dụ, sự oxy hóa hoàn toàn carbohydrat và lipid sẽ sinh ra khoảng 22.000mEq CO2 mỗi ngày. CO 2 hóa hợp với nước hình thành acid carbonic (H 2 CO 3 ). Mặt khác, có khoảng 70mEq chất acid cố định (acid không bay hơi) hình thành từ các nguồn chuyển hóa khác: các acid hữu cơ (acid lactic, acid pyruvic, các thể ceton) sinh ra từ sự oxy hóa không hoàn toàn chất carbohydrat và lipid; các acid cố định dưới dạng sulfat (từ oxy hóa các acid amin có chứa sulfua), nitrat và photphat (từ oxy hóa các phosphoprotein).

    Tuy các chất chuyển hóa acid được hình thành một cách liên tục như vậy

    nhưng pH của các dịch cơ thể vẫn ít thay đổi là nhờ cơ thể tự duy trì pH bằng các hệ

    đệm trong và ngoài tế bào, sự đào thải CO2 của phổi và acid của thận.

    3.2.1. Khái niệm về pH và ion H +

    Theo khái niệm của Bronstedt, acid được định nghĩa như là một chất có thể

    giải phóng ion H + , còn base là chất có thể tiếp nhận ion H + . Độ acid của một dung dịch

    được biểu thị bằng giá trị pH với:

    pH = – logH +

    Duy trì cân bằng acid-base trong giới hạn bình thường cũng chính là duy trì

    nồng độ ion H + trong giới hạn bình thường. Dung dịch acid chứa một lượng ion H + cao

    hơn so với lượng ion OH – , dung dịch base thì ngược lại, còn dung dịch trung tính

    lượng ion H + và OH – tương đương nhau và bằng 10 -7 . Chỉ số nồng độ ion H + và OH –

    trong dung dịch là một hằng số:

    [H + ].[OH – ]=10 -14

    Do nồng độ ion H + (aH + ) trong huyết tương khoảng 0,0004mEq/L = 4.10 –

    5mEq/L = 4.10 – 8Eq/L. Suy ra: pH máu = – log [H + ]= -(log 4.10 -8 ) = 7,398

    Hay theo phương trình Henderson-Haselbach:

    pH = pK + log [HCO3 – /H2CO3] = 6,1 + log 20/1 – 7,4

    Trong cơ thể ion H + tuần hoàn dưới hai hình thức:

    – Các ion H + liên kết với các anion bay hơi (HCO3 – ) liên quan đến những rối

    loạn cân bằng acid-base kiểu hô hấp.

    – Các ion H + liên kết với các anion cố định, không bay hơi (SO 4 2- , PO 4 3- ,

    lactat…) liên quan đến những rối loạn cân bằng acid-base kiểu chuyển hóa.

    3.2.2. Các hệ thống điều hòa pH

    Cơ thể điều hòa thăng bằng kiềm toan theo 3 bước sau:

    – Bước 1: hoạt động của các hệ thống đệm trong cơ thể.

    – Bước 2: cơ chế bù trừ của hô hấp qua việc đào thải CO2.

    – Bước 3: cơ chế bù trừ của thận để khôi phục lại "kho dự trữ" kiềm và bài tiết

    các H + còn thừa trong cơ thể.

    3.2.2.I. Điều hòa do hệ thống đệm

    * Nguyên tắc hoạt động:

    Một hệ thống đệm gồm hai thành phần: một acid yếu và một muối của base

    mạnh hoặc một base yếu với muối của nó với một acid mạnh. Ví dụ hệ đệm

    bicarbonat gồm H 2 CO 3 /NaHCO 3 (acid yếu: H 2 CO 3 /muối của base mạnh: NaOH), hệ

    đệm NH 4 OH/NH 4 Cl (base yếu: NH 4 OH/muối của acid mạnh: HCl).

    Trong một hệ thống đệm nhất định khi lượng ion H + phân ly và lượng ion H +

    kết hợp bằng nhau và bằng 50% thì người ta nhận thấy pH của hệ đệm không thay đổi

    nên gọi là pK của hệ thống ấy (tức pH = pK).

    Theo phương trình Henderson-Hassenbach:

    pH = pK + log [A – /A – -H + ]

    A – là hình thái kết hợp, A – -H + là hình thái phân ly của hệ đệm.

    Các hệ thống đệm trong các dịch cơ thể sẽ là những hệ thống hoạt động đầu

    tiên và ngay lập tức khi có rối loạn thăng bằng kiềm toan xảy ra.

    * Các hệ thống đệm chính:

    – Hệ đệm bicarbonat: NaHCO 3 /H 2 CO 3 = HCO 3 – /HCO 3 – -H +

    Đây là một hệ đệm rất quan trọng và rất linh hoạt, là hệ đệm chính của ngoại

    bào vì:

    + Nồng độ ion bicarbonat dưới hình thái kết hợp NaHCO 3 trong huyết tương

    cao. Bình thường nó được thận đào thải và tái hấp thu thường xuyên để có nồng độ ổn

    định trong huyết tương là 27mEq/L (còn gọi là dự trữ kiềm).

    + Acid carbonic là một acid bay hơi có thể tăng giảm nồng độ một cách nhanh

    chóng nhờ hoạt động của phổi (tăng hoặc giảm thông khí) để có nồng độ ổn định

    trong huyết tương là 1,35mEq/L.

    – Hệ đệm photphat: Na 2 HPO 4 /NaH 2 PO 4 = NaHPO 4 -/NaHPO 4 –H +

    Đây là một hệ đệm của nội bào (PO 4 3- nội bào = 140mEq/L) và của nước tiểu,

    có hiệu suất lớn vì pK bằng 6,8 gần với pH sinh lý.

    – Hệ đệm proteinat/protein: đây cũng là một hệ thống đệm của huyết tương.

    Thành phần của hệ đệm proteinat chính là gốc amin và gốc carboxyl của nó (NH 3 + – R-

    COO – ).

    – Hệ đệm hemoglobinat/ hemoglobin: đây là hệ đệm của hồng cầu, có hàm

    lượng rất lớn nên chúng có vai trò quan trọng trong điều hòa pH máu qua sự bắt giữ

    và đào thải CO2 ở phổi.

    3.2.2.2 Điều hòa do hô hấp

    Khi cơ thể ứ đọng nhiều CO 2 sẽ làm pH giảm, pH giảm tới 7,33 sẽ làm trung

    tâm hô hấp bị kích thích mạnh dẫn đến tăng thông khí, nhờ vậy CO 2 được đào thải ra

    ngoài. Ngược lại, khi H 2 CO 3 giảm hoặc NaHCO 3 tăng, pH có xu hướng tăng thì trung

    tâm hô hấp sẽ bị ức chế dẫn đến thở chậm, CO 2 tích tụ lại. Điều hòa do hô hấp là một

    cơ chế điều hòa thăng bằng kiềm toan xảy ra rất nhanh và sớm nhưng thường không

    triệt để, cơ chế này phải được tiếp tục bởi sự điều hòa thăng bằng kiềm toan của thận

    diễn ra chậm nhưng hiệu quả hơn.

    3.2.2.3. Điều hòa do thận

    Thận điều hòa thăng bằng kiềm toan thông qua 2 cơ chế:

    – Bài tiết H + thừa trong cơ thể.

    – Duy trì kho dự trữ kiềm của cơ thể: thận vừa có khả năng tái hấp thu HCO3 –

    được lọc vừa có khả năng bổ sung HCO – mới.

    Tùy theo tình trạng nhiễm toan hay nhiễm kiềm mà thận sẽ thay đổi hoạt động

    cho phù hợp. Quá trình bù trừ của thận đòi hỏi thời gian lâu hơn các cơ chế

    trên (vài giờ đến vài ngày) nhưng cho kết quả hoàn hảo hơn (cả pH và tổng lượng

    HCO3 – của dịch thể cơ thể đều được khôi phục).

    2.3. Điều hòa nồng độ các chất có trong dịch

    Duy trì nồng độ các chất có trong dịch cơ thể ở giới hạn bình thường là một trong những điều kiện quan trọng để đảm bảo hằng tính nội môi.

    – Các chất khí: sự thay đổi nồng độ O2 và CO2 trong dịch cơ thể sẽ tạo ra những phản xạ điều chỉnh nhanh nhạy làm thay đổi hoạt động thông khí ở phổi. Kết quả cuối cùng là đưa O2 và CO2 trở lại mức bình thường.

    – Các ion, các chất dinh dưỡng và các sản phẩm của quá trình chuyển hóa: sự thay đổi thành phần cũng như nồng độ các chất này trong dịch cơ thể sẽ kích thích các cơ quan bài tiết ra các hoạt chất sinh học mà đặc biệt là các hormon. Hormone đóng vai trò quan trọng trong cơ chế thể dịch để điều hòa hoạt động các cơ quan trong cơ thể nhằm giữ hằng tính nội môi.

     

  • GIẢI BÀI TẬP SINH LÝ – BÀI 5: ĐIỆN THẾ MÀNG TẾ BÀO

     

    Câu 1. Trình bày nguyên nhân gây ra điện thế nghỉ tế bào? Ứng dụng bơm Na+ -K+ATPase trong quá trình điện học của tim.

    1. Nguyên nhân gây ra điện thế nghỉ tế bào

    + Nồng độ ion kali bên trong cao hơn bên ngoài tế bào.

    + Các cổng kali mở (tính thấm chọn lọc đối với K+) nên các K+ ở sát màng tế bào đồng loạt đi từ trong ra ngoài tế bào và tập trung ngay sát mặt ngoài màng tế bào, làm cho mặt ngoài màng tích điện dương so với mặt trong màng tích điện âm.

    + Bơm Na – K vận chuyển K+ từ phía bên ngoài trả vào phía bên trong màng tế bảo giúp duy trì nồng độ K+ bên trong tế bào cao hơn bên ngoài tế bào.

    1. Ứng dụng bơm Na+ -K+ATPase trong quá trình điện học của tim

    – Bơm natri-kali được công nhận rộng rãi là cơ chế chính để vận chuyển ion tích cực qua màng tế bào của mô tim, chịu trách nhiệm tạo ra và duy trì gradient natri và kali qua đường tĩnh mạch, rất quan trọng đối với điện sinh lý tế bào tim.

    + Quan trọng, Hoạt động của bơm natri-kali bị suy giảm trong một số tình trạng bệnh chính, bao gồm cả thiếu máu cục bộ và suy tim.

    Tuy nhiên, những cách thức hoạt động tinh vi của nó đối với điện sinh lý tim, cả hai đều trực tiếp thông qua bản chất điện sinh và gián tiếp thông qua điều hòa cân bằng nội môi của tế bào, làm cho khó dự đoán hậu quả điện sinh lý của việc giảm hoạt động của bơm natri-kali trong quá trình tái cực tim.

    + Bơm natri-kali là một trong những các cơ chế ion quan trọng trong việc điều chỉnh các đặc tính chính của quá trình tái cực tim và sự phụ thuộc vào tốc độ của nó, từ cấp dưới tế bào đến toàn bộ cơ quan. Chúng bao gồm vai trò của máy bơm trong điều chế hai pha của tái phân cực và khúc xạ tế bào, kiểm soát tốc độ của động lực natri và canxi trong tế bào và do đó, sự thích ứng của tái phân cực với những thay đổi trong nhịp tim, cũng như tầm quan trọng của nó trong việc điều chỉnh chất nền chống loạn nhịp thông qua điều chế sự phân tán của sự tái phân cực và sự phục hồi.

    Câu 2. Tìm trên website hình ảnh mô tả trạng thái phân cực, khử cực, tái hồi cực của tế bào.

    * Hình ảnh mô tả trạng thái phân cực

    Biểu diễn giản đồ của các sự kiện phân cực tế bào có liên quan trong quá trình phát triển hình chiếu giao phối nấm men đang chớm nở.

    * Hình ảnh mô tả trạng thái khử cực

    – Sự khử cực của một dây thần kinh

    * Hình ảnh mô tả trạng thái tái hồi cực

    Sự siêu phân cực, sự khử cực và sự tái phân cực của một tế bào thần kinh đều do dòng ion, hoặc các phân tử tích điện, vào và ra khỏi tế bào.

    Câu 3. So sánh điện thế khuếch tán của K+ và Na+?

    Của K+ Của Na+
    Điện thế khuếch tán + Ion K+ phân bố ở bên trong nhiều hơn bên ngoài tế bào sẽ khuếch tán từ trong ra ngoài theo bậc thang nồng độ qua kênh K+.

    +Theo phương trình Nernst tính được điện thế khuếch tán của ion K+ là -94mV.

    + Tính thấm của màng tế bào ở trạng thái nghỉ đối với K+ rất cao, gấp 100 lần Na+ (nói cách khác, ở trạng thái nghỉ kênh K+ đóng không chặt bằng kênh Na+ nên K+ rò rỉ nhiều hơn Na+).

    +Do vậy, điện thế khuếch tán của K+ đóng vai trò chính tạo ra điện thế nghỉ.

    + Ion Na+ phân bố ở bên ngoài nhiều hơn bên trong tế bào sẽ khuếch tán từ ngoài vào trong theo bậc thang nồng độ qua kênh Na+.

    + Theo phương trình Nernst tính được điện thế khuếch tán của ion Na+ là +61mV.

    + Tuy nhiên do tính thấm của màng tế bào ở trạng thái nghỉ đối với Na+ kém hơn K+, nên theo phương trình Goldman điện thế màng của 2 ion này là -86mV.

    Câu 4. Điền vào bảng sau: Đặc điểm trạng thái điện học của màng tế bào.

    Các pha Diễn tiến Kết quả
    Pha 0: Khử cực nhanh Khử cực nhanh. Dòng Na+ nhanh từ ngoài vào trong tế bào. (Na vào kênh Na nhanh)
    Pha 1: Tái cực sớm Tái cực nhanh sớm. Dòng Na+ từ ngoài vào trong tế bào đột ngột đóng lại. Dòng Ca++ bắt đầu vào trong tế bào. (K ra)
    Pha 2: Bình nguyên Cao nguyên tái cực, điện thế trong màng vẫn (+), Na+ tiếp tục vào trong màng tế bào nhưng chậm hơn, Ca++ cũng vào trong màng và K+ thoát ra ngoài màng. (Ca vào qua kênh Ca++ type L (long-lasting)10-20% Na vào kênh Na chậm, K ra)
    Pha 3: Tái cực nhanh Tái cực nhanh muộn, K+ thụ động thoát ra ngoài màng tế bào, điện thế trong màng trở nên âm tính hơn. Na ra

    qua bơm 3 Na/2 K, Ca ra qua

    bơm 3Na/1 Ca và bơm Ca

    Pha 4: Phân cực ( nghỉ) Phân cực, ở đầu giai đoạn này các ion Na+ chủ động di chuyển ra ngoài màng tế bào, còn K+ lại chuyển vào trong. Khi điện thế màng đạt đạt đến mức cao nhất, tế bào trở lại trạng thái phân cực như khi nghỉ (trước giai đoạn 0 của điện thế hoạt động trở về trị số ban đầu và

    ổn định

     

  • BÀI TẬP CÁ NHÂN BÀI 4: VẬN CHUYỂN VẬT CHẤT QUA MÀNG TẾ BÀO.

     

    Câu 1. Hãy trình bày bài học dưới dạng sơ đồ tóm tắt.

    Câu 2. Hoàn thành các bảng trống sau đây:

    Bàng 1: Vận chuyển thụ động

    Khuếch tán đơn giản Khuếch tán được gia tốc
    Qua lớp lipid kép Qua kênh protein
    Hình thức khuếch tán qua khoảng kẽ giữa các phân tử của lớp lipid kép khuếch tán qua phân tử protein xuyên màng dạng kênh Là sự khuếch tán nhờ vai trò của chất mang, còn gọi là khuếch tán qua chất mang. Chất mang này chính là protein xuyên màng không có tính chất enzyme
    Chất khuếch tán Các chất có bản chất lipid được vận chuyển dễ dàng qua lớp lipid kép

    • Các chất không phải là lipid nhưng tan trong lipid cũng qua rất nhanh như O2, N2, CO2, vitamin tan trong mỡ (A, D, E, K), rượu, cồn. Khi tiếp xúc với màng, chúng hòa tan vào thành phần lipid kép và khuếch tán qua màng.

    • Nước và các phân tử không tan trong lipid

    Chất được vận chuyển là nước và các chất hòa tan trong nước như các ion. Các kênh protein này chọn lọc chất khuếch tán do đặc điểm về đường kính, hình dạng, điện tích.

    Các kênh còn được đóng mở bằng cổng theo điện thế hoặc hóa học. Các kênh quan trọng như kênh Na+ cho Na+ đi từ ngoài vào trong tế bào; kênh K + cho K + đi từ trong ra ngoài tế bào; kênh Cl – cho Cl – đi từ ngoài vào trong tế bào; kênh Ca 2+ cho Ca 2+ và cả Na + đi từ ngoài vào trong tế bào.

    Là chất hữu cơ không tan trong lipid và có kích thước phân tử lớn, đặc biệt là Glucose, acid amin.

    Insulin kích thích tốc độ khuếch tán gấp 10 – 20 lần.

    Có thể vận chuyển các monosaccharide khác như Galactose, mantozơ, xylose, arabinose

    Đặc điểm không cần chất mang

    Tốc độ khuếch tán tỉ lệ thuận với độ tan trong lipid của chất khuếch tán

    Các kênh protein này có tính chọn lọc đối với một số chất do đặc điểm đường kính, hình dạng, điện tích ở mặt trong của kênh tác dụng lên chất đi qua màng.

    Nhiều kênh có thể mở hay đóng bởi cổng: Cổng là một phương tiện để kiểm soát tính thấm của kênh, cổng đóng hay mở là do biến đổi hình dạng phân tử protein. Có hai cơ chế kiểm soát việc đóng mở kênh protein

    Chất được vận chuyển gắn vào protein mang làm cho protein mang thay đổi cấu hình và mở ra ở phía bên kia của màng.

    Chuyển động nhiệt của phân tử chất khuếch tán sẽ tách nó ra khỏi điểm gắn và di chuyển về bên kia màng.

    + Tốc độ khuếch tán: phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có số lượng protein mang trên một đơn vị diện tích màng. Do đó, tốc độ khuếch tán có giá trị tối đa (Vmax) chứ không phải tuyến tính như khuếch tán đơn giản.

    Khác nhau Các ion (Na+, H+, K+…) không thấm qua dù kích thước nhỏ do tích điện Các ion ( Na+, H+, K+…) thấm qua kênh protein Khuếch tán được gia tốc là sự khuếch tán nhờ vai trò của chất mang, nếu không có chất mang thì sự khuếch tán không thể xảy ra, vì vậy còn gọi khuếch tán được gia tốc là khuếch tán qua chất mang.

    Bảng 2: Vận chuyển chủ động

    Sơ cấp Thứ cấp
    Đồng VC thuận Đồng VC nghịch
    Đặc điểm – Cần tiêu thụ năng lượng ATP.

    – Cần chất chuyên chở (chất mang có tính enzym hay còn gọi là bơm).

    – Diễn ra theo hướng ngược gradient từ nơi có nồng độ thấp đến nơi có nồng độ cao tiến tới làm bậc thang nồng độ ngày càng rộng hơn.

    – Nguồn gốc năng lượng: thủy phân ATP hoặc một vài hợp chất Phosphate cao năng khác.

    – Chất được vận chuyển: ion Na+, K+, Ca2+, H+, Cl-

    – Bao gồm: Bơm Na+, K+, ATPase/ Bơm Ca2+/ Bơm H=

    – Các chất được vận chuyển đi cùng một hướng. – Các chất được vận chuyển đi ngược hướng nhau.
    Chất được vận chuyển – Chất được vận chuyển: ion Na+, K+, Ca2+, H+, Cl- – Chất được vận chuyển: chất hữu cơ như glucose, acid amin, các ion. – Chất được vận chuyển: chất hữu cơ như glucose, acid amin, các ion.
    Ví dụ – Ví dụ về vận chuyển chủ động bao gồm việc hấp thu glucose trong ruột ở người và hấp thụ ion khoáng chất vào tế bào rễ ở thực vật. – Ví Dụ: đồng vận chuyển thuận Na + và glucose/acid amin ở tế bào biểu mô ống tiêu hóa và ống thận để hấp thu các chất này vào máu. – Ví dụ: đồng vận chuyển nghịch của K + hoặc H + với Na + ở tế bào biểu mô ống lượn xa và ống góp để bài tiết K + hoặc H + và tái hấp thu Na + trao đổi.

     

  • Bài tập cá nhân môn Sinh lí 1 BÀI 3: SINH LÝ TẾ BÀO.

     

    Câu 1: Download hình ảnh cấu trúc màng tế bào từ một website bất kỳ bằng tiếng Anh có đầy đủ các thành phần như trong giáo trình và chú thích bằng tiếng Việt.

    CELL MEMBRANE STRUCTURE

    ( CẤU TRÚC MÀNG TẾ BÀO )

    Câu 2: Lấy hình ảnh cấu trúc tế bào tại trang 40 trong giáo trình Human Physiology, chương 3 – Cell structure, chú thích bằng tiếng Việt cho phù hợp nội dung

    Câu 3: Trình bày 2 ứng dụng của mỗi thành phần protein, lipid, glucid trên màng tế bào trong điều trị bệnh.

    Thành phần Protein Lipid Glucid
    Ứng dụng trong điều trị bệnh 1. Protein màng làm mạng lưới quy định trên các bệnh ung thư ở người.

    – Những sự thay đổi trong protein màng dùng để xét dấu hiệu chẩn đoán bệnh Ung thư và nhằm ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng.

    -Nhờ mạng lưới điều chỉnh protein màng ung thư (CAMPNets) cùng liên kết với sự thay đổi protein trên màng tế bào để cung cấp bộ gen xác định dấu ấn sinh học và điều trị bằng thuốc cho phù hợp.

    Ví dụ: xác định được CHRNA9 với 12PPI để tìm mục tiêu điêu trị, tác nhân chống di căn nhằm điều trị ung thư vú do nicotin gây ra.

    Nguồn:Membrane protein-regulated networks across human cancers

    1. Liệu pháp Lipid màng được ứng dụng trong điều trị Ung thư.

    – Chức năng của lipid màng:

    +Thành phần lipid màng có thể được điều chỉnh để thay đổi hoạt động của tế bào và thậm chí để tạo ra các tác dụng điều trị.

    + Những thay đổi đáng kể đối với lipid trong màng hoạt động như công tắc tế bào, thúc đẩy những thay đổi sinh lý hoặc bệnh lý.

    + Các liệu pháp nhắm vào lipid màng có thể hiệu quả trong việc điều trị các tình trạng thông thường hoặc các bệnh hiếm gặp.

    -Liệu pháp Lipid Màng, đang phát triển và phát triển nhanh chóng, cung cấp các phương pháp điều trị hiện đang được sử dụng hoặc đang được nghiên cứu để áp dụng cho các rối loạn ung thư, bệnh Alzheimer, chấn thương tủy sống, đột quỵ, tiểu đường, béo phì và bệnh thần kinh nỗi đau.

    – Liệu pháp được thực hiện trên các thử nghiệm lâm sàng và đã đưa vào thị trường năm 2020.

    -axit 2-hydroxy oleic là hợp chất MLT đầu tiên được thiết kế hợp lý để điều trị tình trạng bệnh bằng cách điều chỉnh thành phần và cấu trúc lipid màng.

    Nguồn: Membrane-lipid therapy: A historical perspective of membrane-targeted therapies — From lipid bilayer structure to the pathophysiological regulation of cells

    1. Tạo kháng thể, tăng cường khả năng sống sót của 1 số nhóm bệnh nhân ung thư.

    – Glucid của màng thường ở dạng kết hợp với protein và lipid, tạo thành các glycoprotein và glycolipid nằm ở mặt ngoài màng tế bào.

    – Các glycoprotein tiếp xúc trên bề mặt tế bào có các chức năng sinh học quan trọng.

    – Các thay đổi bổ sung trên tế bào ung thư tạo ra khả năng di căn và một số protein bề mặt này đã được nhắm mục tiêu thành công như kháng thể của người, giúp tăng cường khả năng sống sót của bệnh nhân ung thư, giúp sáng tỏ sinh học ung thư, đặc biệt là di căn, và hướng dẫn sự phát triển của các mục tiêu thuốc mới trong tương lai.

    2. Protein màng được ứng dụng làm Nano sinh học trong điều trị Ung thư.

    – Ung thư là nguyên nhân tử vong đứng thứ 2 trên thế giới, mặc dù hóa trị là phương pháp điều trị chính nhưng dẫn đến tác dụng phụ, có khả năng tái phát ung thư và di căn.

    – Cho nên để giảm thiểu, công nghệ Nano được giới thiệu như một công cụ đa năng để điều trị và đạt được nhiều khả quan trong điều trị.

    – Tuy nhiên, việc điều trị bằng các hạt nano truyền thống gặp nhiều hạn chế do các hạt nano truyền thống có thể được phát hiện và loại bỏ bởi hệ thống miễn dịch.

    – Vì thế, các hạt nano mô phỏng sinh học đã nổi lên như một giải pháp sáng tạo nhằm khai thác các thành phần có nguồn gốc sinh học để cải thiện tiềm năng điều trị. Cụ thể, các protein màng tế bào được chiết xuất từ ​​các tế bào khác nhau (tức là bạch cầu, hồng cầu, tiểu cầu, tế bào gốc trung mô, ung thư) đã cho thấy nhiều hứa hẹn trong việc cung cấp các hạt nano tăng cường lưu thông và hiệu quả nhắm mục tiêu

    Nguồn:Cell membrane protein functionalization of nanoparticles as a new tumor-targeting strategy

    2. Nhận diện sự bất thường của lớp lipid để chẩn đoán các sinh lí ung thư, từ đó tìm ra phương pháp điều trị thích hợp.

    – Tế bào ung thư có nhiều khả năng thích ứng để chống lại phản ứng của hệ thống miễn dịch và hóa trị liệu. Một trong những đặc tính quan trọng nhất của tế bào ung thư là sự chuyển hóa lipid bị thay đổi, và do đó, thành phần màng tế bào bất thường. Những thay đổi này rất rõ nét, nên một số lipid đã được sử dụng làm dấu ấn sinh học chẩn đoán ung thư.

    – Cụ thể, mức độ tăng của một số lipid nhất định, chẳng hạn như phosphatidylserine, dẫn đến sự suy giảm phản ứng của hệ thống miễn dịch. Ngoài ra, những thay đổi trong độ bão hòa lipid ngăn cản tế bào khỏi các điều kiện yêu cầu của vi môi trường. Đặc biệt thú vị là tầm quan trọng của hàm lượng cholesterol trong màng tế bào trong việc điều chỉnh quá trình di căn.

    Nguồn:https://link.springer.com/article/10.1007/s10863-020-09846-4

    2. Các gluxit hay carbohydrate có liên quan đến nhiều chức năng tế bào bình thường và bệnh lý, bao gồm nhận dạng, phát triển tế bào, ức chế tiếp xúc, hiện tượng miễn dịch, chức năng tiếp hợp. phản ưng với các tác nhân bên ngoài như độc tố và hormone. Glycoprotein và glycolipid oliosaccharide có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định cách thức mà các liên hệ được thiết lập và duy trì

     

  • BÀI TẬP CÁ NHÂN Bài 2: SINH LÝ THÂN NHIỆT

     

    Câu 1. Lập bảng so sánh thân nhiệt trung tâm và ngoại vi.

    – Nhiệt độ trung tâm

    Là nhiệt độ các phần sâu trong cơ thể như gan, não và các tạng … , còn gọi là nhiệt độ phần lõi cơ thể. Nhiệt độ trung tâm bình thường nằm trong giới hạn từ 36-37,5oC nhưng hay gặp nhất là 36,5-37oC. Có 3 cách đo nhiệt độ trung tâm :

    – Đo ở trực tràng : nhiệt độ đo ở trực tràng với độ sâu chuẩn là 5-10 cm được xem là tiêu biểu cho nhiệt độ trung tâm.

    – Đo ở miệng (dưới lưỡi) : thấp hơn ở trực tràng khoảng 0,4-0,6oC.

    – Nhiệt độ ngoại vi

    Là nhiệt độ của da và tổ chức dưới da, còn gọi nhiệt độ phần vỏ cơ thể.

    Nhiệt độ này thay đổi theo từng vị trí trên cơ thể và theo nhiệt độ môi trường. Ở nhiệt độ phòng (24-25oC), nhiệt độ da vùng đầu, ngực, bụng là 35oC; vùng cánh tay và cẳng chân là 31oC; vùng bàn tay, bàn chân là 29oC.

    – Đo ở hõm nách : thấp hơn nhiệt độ trực tràng khoảng 0,65oC.

    Câu 2. Đọc lại bài 1 và hoàn thành tiếp chương trình sau.

    Nhiệt = ( sinh ra từ ) các phản ứng chuyển hóa = ( là) hoạt động sống = ( đòi hỏi) tiêu hao năng lượng = duy trì + sinh sản + phát triển ( hai hoạt động sau có thể có hoặc không nên có thể bỏ ) = chuyển hóa cơ sở + vận cơ + điều nhiệt ( hoạt động cuối có thể bỏ).

    • Nhiệt được sinh ra từ 3 hoạt động chính nào

    + Chuyển hoá cơ sở: các yếu tố làm tăng chuyển hoá cơ sở đều làm tăng sinh nhiệt, mức tăng này có lên đến 150%.

    + Vận cơ: trong co cơ 75% năng lượng tiêu hao dưới dạng nhiệt. Đặc biệt cóng và run là những nguyên nhân sinh nhiệt quan trọng bởi vì trong hình thức co cơ này có đến 80% năng lượng mất đi dưới dạng nhiệt.

    + Tiêu hóa: sinh nhiệt do tác dụng động lực đặc hiệu của thức ăn (SDA).

    => Trong các hoạt động sinh nhiệt trên thì chuyển hóa cơ sở, cóng và run là những hình thức sinh nhiệt tự nhiên, còn lại là sinh nhiệt bằng hành vi.

    • Trong 3 hoạt động trên thì hoạt sinh nhiệt là chủ yếu.
    • Yếu tố ảnh hưởng lên thân nhiệt cũng chính là yếu tố ảnh hưởng lên hoạt động sống và sức khỏe con người
    • Chính vì vậy, sự ổn định thân nhiệt là một trong các chỉ số quan trọng đánh giá sức khỏe, xoay quanh giá trị trung bình là 37 độ C. Sự tăng hay giảm thân nhiệt đều là những vấn đề bất thường cần quan tâm.

    Câu 3. Trong các yếu tố điều hòa thân nhiệt bằng hành vi thì yếu tố nào là quan trọng nhất giúp con người có thể thích nghi với môi trường?

    • Trong các yếu tố điều hòa thân nhiệt bằng hành vi thì yếu tố quan trọng nhất giúp con nghi thích nghi với môi trường là rèn luyện thân thể.

     

  • BÀI TẬP CÁ NHÂN Bài 1: ĐẠI CƯƠNG VỀ CƠ THỂ SỐNG.

     

    Câu 1. Tìm các thuật ngữ đồng nghĩa với từ đồng hóa, dị hóa được sử dụng trong Y văn:

    – Đồng hóa đồng nghĩa phản ứng sinh tổng hợp

    -> Thu nhận vật chất biến thành chất dinh dưỡng để cơ thể xây dựng hình thể, tồn tại và phát triển.

    – Dị hóa: phản ứng thoái hóa.

    -> Phân giải vật chất, tạo ra năng lượng để cơ thể hoạt động và đào thải các sản phẩm chuyển hóa ra khỏi cơ thể.

    Các ví dụ sau đây chứng minh cho đặc điểm nào của sự sống?

    – Da là một loại mô liên kết sừng hóa, hàng ngày khi lớp sừng hóa bong ra sẽ được thay bằng một lớp khác.=> (Khả năng sinh tồn nòi giống)

    – Nồng độ CO2 trong máu tăng sẽ dẫn đến tăng nhịp thở.=> (Khả năng chịu kích thích)

    – Nồng độ glucose trong máu tăng làm tuyến tụy tăng bài tiết insulin.=> (Khả năng chịu kích thích)

    – Nút xoang phát xung động lan truyền ra cơ tâm nhĩ và tâm thất làm tâm nhĩ và tâm thất co bóp.=> ( khả năng chịu kích thích)

    Câu 2. Trình bày bằng phương trình hóa học khái quát quá trình tổng hợp ATP của cơ thể.

    Phản ứng tổng quát khi tổng hợp ATP là: ADP + Pi → ATP

    ADP + Pi + 12Kcal -> ATP.

    ADP + 2 Pi + 24 Kcal -> ATP.

    Phương trình hóa học khái quát quá trình tổng hợp ATP của cơ thể.

    • Phương trình phosphoryl – oxy khóa khử gồm 2 giai đoạn:
    • Oxy hóa khử:

    Hô hấp -> O2

    Tiêu hóa -> C – H- O

    • phosphoryl hóa: ADP + P -> Năng lượng, ATP.
    • Quá trình hình thành các dạng năng lượng cơ thể.
    • Hóa năng: ATP -> phản ứng tổng hợp.
    • Động năng: ATP -> trượt actin và myosin.
    • Thẩm thấu năng: ATP -> vận chuyển chủ động vật chất qua màng.
    • Điện năng: ATP -> vận chuyển chủ động ion qua màng.
    • Nhiệt năng: tất cả phản ứng chuyển hóa đều sinh nhiệt ( 80% năng lượng)

    Câu 3. Những điều cần dặn bệnh nhân chuẩn bị đi đo chuyển hóa cơ sở.

    • Không được ăn gì trong 12 giờ.
    • Không vận động cơ, không hút thuốc trước 1 giờ.
    • Giữ tinh thần thoải mái trước khi đo.
    • Liệt kê những các thuốc mà bệnh nhân đang sử dụng
    • Chuẩn bị câu hỏi của bệnh nhân muốn hỏi bác sĩ.

     

  • BÀI 5: ĐIỆN THẾ MÀNG TẾ BÀO

     

    I. ĐẠI CƯƠNG VỀ ĐIỆN THẾ TẾ BÀO

    1.1. Khái niệm về điện thế màng

    – Điện thế màng là điện thế tồn tại trên màng của hầu như mọi tế bào trong cơ thể đặc biệt trên tế bào thần kinh và tế bào cơ kể cả cơ vân, cơ trơn và cơ tim.

    – Trị số điện thế màng xác định là điện thế bên trong so với bên ngoài màng tế bào.

    1.2. Cơ sở vật lý của điện thế màng

    Cơ sở vật lý của điện thế màng chính là điện thế khuếch tán.

    Điện thế khuếch tán là điện thế được tạo ra do sự khuếch tán ion qua màng.

    +Điện thế khuếch tán được xác định bằng các phương trình “Nernst” và phương trình “Goldman” tùy thuộc vào số lượng ion khuếch tán tại cùng một thời điểm.

        1. Phương trình Nernst

    Giữa mặt trong và mặt ngoài màng tế bào luôn tồn tại một hiệu điện thế do sự khác biệt về nồng độ các ion tạo ra. Khi đó, sự khuếch tán của các ion qua màng sẽ chịu ảnh hưởng của hai lực đối lập nhau:

    • Xu thế khuếch tán do chênh lệch về nồng độ: các ion sẽ khuếch tán từ nơi có nồng độ cao đến nơi có nồng độ thấp.

    => Sự chuyển động này tạo nên 1 chênh lệch về điện tích tăng dần.

    • Xu thế khuếch tán do chênh lệch về điện thế: các ion (+) di chuyển về phía bên màng tích điện (-), ion (-) di chuyển về phía bên màng tích điện (+).

    => Sự chuyển động này tạo nên 1 chênh lệch về nồng độ tăng dần.

    Ví dụ: xét sự phân bố của 3 ion chính ở hai bên màng tế bào thần kinh:

    1.1.2. Phương trình Goldman

    * Phụ thuộc vào 3 yếu tố:

    • Dấu điện tích của ion.
    • Tính thấm P của màng tế bào đối với mỗi ion.
    • Chênh lệch nồng độ ion giữa hai bên màng.

    Phương trình này xác định điện thế bên trong màng so với bên ngoài với sự thấm của ion Na+, K+ và Cl:

    EMF = +- 61 log Ci/Co (mV)

    Na+ = -61 log 0,1 = 61mV ( Bên ngoài màng: 40, bên trong 140 )

    Cl-= -61( log 103/4) = – 86mV ( ngoài màng 103, bên trong 4)

    K+ = -94mV

    Nếu như trong thời điểm xét, chỉ cho Na+ là 61mV

    * 4 điểm lưu ý:

    • Các ion Na+, K+ và Cl – quan trọng trong việc tạo ra điện thế màng ở tế bào thần kinh và cơ.
    • Độ quan trọng của mỗi ion trong việc tạo điện thế tỉ lệ thuận với tính thấm của màng đối với ion đó.
    • Nếu nồng độ ion (+) trong màng cao hơn ngoài màng, thì tạo điện thế âm trong màng vì ion (+) khuếch tán ra ngoài để lại các anion không lọt qua màng.
    • Khi có xung đột thần kinh: Tính thấm của kênh Na+ và kênh K+ biến đổi cực nhanh tính thấm của kênh Cl biến đổi chậm hơn. => tính thấm của Na+ và K+ có ý nghĩa với sự tạo ra điện thế màng. Trong khi tính thấm của Cl ít ảnh hưởng hơn.
    1. CÁC TRẠNG THÁI ĐIỆN HỌC CỦA MÀNG TẾ BÀO

    Có 3 trạng thái:

    2.1. Trạng thái nghỉ ( trạng thái phân cực)

    Trạng thái nghỉ là khi tế bào không hoạt động.

    • Màng tế bào có tính phân cực + không ghi được dòng điện
    • Mặt trong (-), mặt ngoài (+) )
    • Điện thế nghỉ được tạo ra do sự phân bố của các ion ở 2 bên màng mà chủ yếu là ion Na+, K+ và Cl, ngoài ra còn có Ca2+.
    • Trạng thái nghỉ các cổng kênh đều đóng nhưng không đóng chặt hoàn toàn,ion có thể rò rỉ qua kênh.

    – Điện thế khuếch tán của K+:

    + Ion K+ phân bố ở bên trong nhiều hơn bên ngoài tế bào sẽ khuếch tán từ trong ra ngoài theo bậc thang nồng độ qua kênh K+.

    +Theo phương trình Nernst tính được điện thế khuếch tán của ion K+ là -94mV.

    + Tính thấm của màng tế bào ở trạng thái nghỉ đối với K+ rất cao, gấp 100 lần Na+ (nói cách khác, ở trạng thái nghỉ kênh K+ đóng không chặt bằng kênh Na+ nên K+ rò rỉ nhiều hơn Na+).

    +Do vậy, điện thế khuếch tán của K+ đóng vai trò chính tạo ra điện thế nghỉ.

    – Điện thế khuếch tán của Na+:

    • Ion Na+ phân bố ở bên ngoài nhiều hơn bên trong tế bào sẽ khuếch tán từ ngoài vào trong theo bậc thang nồng độ qua kênh Na+.
    • Theo phương trình Nernst tính được điện thế khuếch tán của ion Na+ là +61mV.
    • Tuy nhiên do tính thấm của màng tế bào ở trạng thái nghỉ đối với Na+ kém hơn K+, nên theo phương trình Goldman điện thế màng của 2 ion này là -86mV.
    • Điện thế khuếch tán của Cl:
    • Ion Cl phân bố ở bên ngoài nhiều hơn bên trong tế bào sẽ khuếch tán từ ngoài vào trong theo bậc thang nồng độ qua kênh Cl.
    • Điện thế khuếch tán của ion Cl là -90mV.
    • Tuy nhiên do tính thấm của kênh Cl biến đổi chậm nên tính thấm của Cl ít ảnh hưởng đến điện thế màng.

    => Tóm lại, cuối cùng điện thế nghỉ được tạo ra có trị số khoảng gần 90mV ở các tế bào thần kinh và cơ có kích thước lớn. Tuy nhiên, điện thế nghỉ cũng có thể dao động từ -90mV đến -40mV tùy theo loại mô.

    2.2. Trạng thái kích thích ( trạng thái khử cực )

    – Khi tế bào bị kích thích và chuyển sang tình trạng hoạt động.

    – Ở trạng thái này, tế bào sẽ khử cực (depolarization), điện thế mặt trong tế bào tăng lên có thể vượt mức 0mV (overshoot) và trở lên dương hơn so với mặt ngoài làm phát sinh điện thế hoạt động, điện thế này lan ra thành xung động.

    2.2.1. Điện thế hoạt động phát sinh khi có các điều kiện sau:

    – Tác nhân kích thích: tế bào đang ở trạng thái nghỉ, nếu có một tác nhân kích thích nào đó thích hợp, tế bào sẽ chuyển sang trạng thái khử cực.

    + Tác nhân kích thích thường đến từ bên ngoài thông qua sự trao đổi thông tin giữa các tế bào.

    + Cơ tim là một trường hợp đặc biệt, các tế bào cơ tim loại đáp ứng chậm có khả năng tự khởi phát điện thế hoạt động (tự phát xung) không thông qua tác nhân kích thích từ bên ngoài.

    – Ngưỡng tạo điện thế hoạt động:

    + Sự tăng điện thế màng phải đạt đến một mức nào đó mới làm phát sinh điện thế hoạt động. + Thường sự tăng đột ngột này khoảng 15-30mV, tức là từ trị số -90mV tăng lên -75mV đến -60mV mới bùng nổ điện thế hoạt động.

    + Người ta thường lấy mức -65mV gọi là ngưỡng kích thích.

    – Feedback dương mở kênh Na+:

    kênh Na+ là kênh đóng mở cổng theo điện thế.

    + Kênh có hai cổng,

    • Cổng phía đầu ngoài tế bào: cổng hoạt hóa
    • Cổng phía đầu trong tế bào: cổng khử hoạt.

    => Ở trạng thái nghỉ, cổng hoạt hóa đóng, cổng khử hoạt mở.

    => Khi điện thế màng tăng lên đột ngột trong vài phần vạn giây đến ngưỡng thì điện thế đó làm mở tất cả cổng hoạt hóa, tính thấm màng đối với Na+ tăng lên gấp 500-5000 lần làm Na+ “ồ ạt” vào trong tế bào, khởi phát điện thế hoạt động.

    => Đáng chú ý là cổng khử hoạt sẽ bắt đầu đóng ngay sau khi mở cổng hoạt hóa, tuy nhiên cổng khử hoạt đóng từ từ, trong khi cổng hoạt hóa lại mở rất nhanh nên phải đến một lúc nào đó mới đủ để ngăn dòng Na+ vào trong tế bào.

    (Như vậy vì lý do nào đó, điện thế màng lúc nghỉ tăng lên rất từ từ trong vòng nhiều mili giây, đủ thời gian để cổng khử hoạt đóng lại thì dù điện thế có đạt ngưỡng cũng không tạo được điện thế hoạt động. Hiện tượng này gọi là sự thích nghi của màng đối với kích thích.)

    2.3. Trạng thái hồi cực.

    Trạng thái hồi cực là khi tế bào chuyển tiếp từ tình trạng hoạt động sang tình trạng không hoạt động.

    Ở trạng thái này, màng tế bào có hai nhiệm vụ chính là tái lập điện thế như trạng thái nghỉ và tái lập sự phân bố ion như ban đầu.

    Có xuất hiện dòng điện ở màng ngoài tế bào.

    Hai nhiệm vụ của quá trình hồi cực:

    – Tái lập điện thế nghỉ – vai trò của kênh K+:

    + Kênh K+ cũng là loại kênh đóng mở cổng theo điện thế nhưng khác với kênh Na+ là nó chỉ có một cổng hoạt hóa đóng mở ở bên trong màng.

    + Ở trạng thái nghỉ, cổng hoạt hóa đóng. Khi điện thế màng từ -90mV tăng lên phía 0mV sẽ làm cổng này từ từ mở ra và sau đó cũng từ từ đóng lại chậm hơn kênh Na+.

    + Ion K+ khuếch tán ra ngoài làm điện thế nghỉ được phục hồi nhưng sự phân bố ion thì chưa giống như trạng thái nghỉ.

    – Tái lập sự phân bố ion – vai trò của bơm Na+-K+-ATPase:

    + Mọi tế bào trong cơ thể đều có bơm Na+-K+-ATPase.

    + Cứ mỗi vòng, bơm này sẽ bơm 3 Na+ ra và 2 K+ vào trong tế bào. Sự chênh lệch này sẽ liên tục làm mất điện tích dương ở bên trong tế bào, đóng góp thêm một điện thế khoảng -4mV vào điện thế nghỉ.

    + Ngoài ra, bơm này cũng tạo ra sự chênh lệch nồng độ ion Na+ và K+ ở 2 bên màng, sự phân cực này sẽ làm tiền đề cho sự xuất hiện điện thế hoạt động sau này

    III. CÁC GIAI ĐOẠN CỦA ĐIỆN THẾ MÀNG

    Các giai đoạn của điện thế màng tế bào thần kinh diễn ra điển hình theo đúng trình tự của các trạng thái điện học màng tế bào với sự tham gia của kênh Na+, kênh K+ và bơm K+-Na+-ATPase.

    Các giai đoạn của điện thế màng tế bào cơ, ngoài sự tham gia của các kênh và bơm như trên, trong quá trình khử cực còn có sự tham gia của kênh Ca2+ và chính Ca2+ đóng vai trò quan trọng trong sự khởi phát co cơ. Sau đó bơm Ca2+ sẽ hoạt động để tái lập lại sự phân bố ion. Hoạt động điện của tế bào cơ tim là những ví dụ điển hình.

    IV. CÁC DÒNG ĐIỆN SINH HỌC.

    Ở tế bào thần kinh và tế bào cơ, sự hình thành điện thế hoạt động và điện thế hồi cực sẽ làm phát sinh những xung động điện hóa lan dọc theo màng.

    Cơ chế lan truyền: điện thế hoạt động và hồi cực tạo nên một “mạch điện” giữa vùng đang khử cực và vùng tiếp giáp: điện tích dương của ion Na+ sẽ đi dọc theo màng xa tới 1-3milimet và làm phát sinh điện thế hoạt động ở vùng tiếp giáp. Cứ như thế điện thế hoạt động lan đi khắp màng tạo thành xung động.

    Hướng lan truyền: về nguyên tắc từ chỗ kích thích ban đầu điện thế hoạt động và hồi cực sẽ lan ra khắp mọi hướng.

    +Trong thực tế sinh học, kích thích thường đến từ một cực tế bào và lan về phía đối diện nên tạo thành một hướng lan nhất định.

    +Trong thực nghiệm và thăm dò chức năng, có thể kích thích vào giữa tế bào, khi đó lan truyền sẽ diễn ra theo cả hai hướng về hai cực tế bào.

    – Đáp ứng lan truyền: điện thế hoạt động lan truyền trên tế bào thần kinh đến chi phối cho cơ hoặc lan truyền trên tế bào cơ sẽ gây đáp ứng co cơ. Đáp ứng này tuân theo quy luật “tất hoặc không”, có nghĩa là kích thích dưới ngưỡng không có đáp ứng, kích thích bằng hoặc trên ngưỡng đều gây đáp ứng tối đa.

    Ứng dụng: cơ thể sinh học là một môi trường dẫn điện.

    + Do vậy, dòng điện sinh ra từ mô cơ quan sẽ được lan truyền ra đến ngoài da, sử dụng các điện cực mắc ngoài da có thể ghi lại được dòng điện sinh học dưới dạng đồ thị gọi là thăm dò điện sinh lý.

    + Nguyên lý chung là khi dòng điện tiến về điện cực dương sẽ tạo thành một sóng dương trên đồ thị. Trong thực hành lâm sàng có thể ghi được các dòng điện sinh học như điện tâm đồ, điện não đồ, điện cơ…

     

  • BÀI 4: VẬN CHUYỂN VẬT CHẤT QUA MÀNG TẾ BÀO

     

    I.ĐẠI CƯƠNG.

    – Màng tế bào là một loại màng bán thấm sinh học. Không chỉ phân cách tế bào thành một tổ chức sống độc lập, màng tế bào còn giúp tế bào trao đổi vật chất với môi trường xung quanh. Đây là một quá trình vận chuyển có chọn lọc theo nhu cầu của tế bào đồng thời cũng để điều hòa hằng tính nội môi.

    – Thành phần cơ bản của màng tế bàolớp phospholipid kép được khảm bởi các phân tử protein và bao bọc bên ngoài là lớp áo glycocalyx.

    * Có hai dạng vận chuyển vật chất qua màng:

    – Vận chuyển qua các phân tử cấu tạo lên màng:

    + Vận chuyển thụ động: qua lớp phospholipid kép, qua các kênh protein xuyên màng (khuếch tán đơn giản) hoặc qua các protein xuyên màng không có tính enzyme (khuếch tán được gia tốc).

    + Vận chuyển chủ động: qua các protein xuyên màng có tính chất enzyme (chủ động sơ cấp), hoặc kết hợp protein xuyên màng không có tính enzym và protein mang xuyên màng có tính enzyme (chủ động thứ cấp).

    – Vận chuyển qua một đoạn màng: vận chuyển bằng cơ chế hòa màng theo kiểu nhập và xuất bào.

    II. VẬN CHUYỂN VẬT CHẤT QUA CÁC PHÂN TỬ CẤU TẠO MÀNG TẾ BÀO.

    Quá trình vận chuyển có chọn lọc các chất và phụ thuộc vào đặc tính của các phân tử cấu tạo lên màng tế bào.

    1. Vận chuyển thụ động.

    1. Khái niệm.

    – Theo hướng gradient từ nơi nồng độ cao đến nơi nồng độ thấp.

    – Theo thể thức bậc thang.

    – Không cần năng lượng (E tích tụ trong gradient)

    – Hầu hết không cần chất chuyên chở.

    – Hướng tới làm thăng bằng bậc thang.

    Gồm 4 hình thức: khuếch tán, thẩm thấu, điện thẩm và siêu lọc

    *1.1. Khuếch tán.

    – Chất khuếch tán đi từ nơi nồng độ cao đến nơi nồng độ thấp nhờ năng lượng chuyển động nhiệt.

    – Tốc độ khuếch tán qua màng phụ thuộc vào:

    • Bản chất của chất khuếch tán.

    . Tỉ lệ thuận với độ hòa tan trong lipid.

    . Tỉ lệ nghịch với trọng lượng phân tử

    • Nhiệt độ: tỉ lệ thuận
    • Trạng thái của màng:

    . Tỉ lệ nghịch với độ dày của màng.

    . Số kênh trên đơn vị diện tích màng.

    – Sự khuếch tán của 1 chất khác xảy ra đồng thời.

    * Các dạng khuếch tán.

    • Khuếch tán đơn giản.

    +Trong khuếch tán đơn thuần, mức độ khuếch tán được xác định bởi:

    • Số lượng chất được vận chuyển
    • Tốc độ chuyển động nhiệt
    • Số lượng các kênh protein trong màng tb

    * Các yếu tố ảnh hưởng đến sự khuếch tán đơn giản:

    – Ảnh hưởng của tính thấm màng: tốc độ khuếch tán qua màng phụ thuộc vào:

    + Bản chất của chất khuếch tán: tỉ lệ thuận với độ hòa tan trong dầu, tỉ lệ nghịch với trọng lượng phân tử.

    + Nhiệt độ: tỉ lệ thuận với nhiệt độ.

    + Trạng thái của màng: tỉ lệ nghịch với độ dày của màng và tỉ lệ thuận với số kênh trên một đơn vị diện tích màng.

    + Sự khuếch tán của 1 chất khác xảy ra đồng thời.

    – Ảnh hưởng của sự chênh lệch nồng độ các chất ở hai bên màng: chênh lệch nồng độ càng lớn tốc độ khuếch tán càng tăng tuyến tính.

    – Ảnh hưởng của sự chênh lệch điện thế tạo nên hiện tượng điện thẩm: khi có sự chênh lệch về điện thế giữa hai bên màng thì sẽ có sự chuyển động của các ion: ion (+) di chuyển về phía bên màng tích điện (-), ion (-) di chuyển về phía bên màng tích điện (+).

    – Ảnh hưởng của chênh lệch các áp suất dung dịch tạo nên hiện tượng siêu lọc: một dung dịch gồm hai thành phần là dung môi (dung môi của dịch cơ thể là nước) và các chất hòa tan, mỗi thành phần sẽ tạo ra một loại áp suất có tác dụng khác nhau.

    + Ảnh hưởng của chênh lệch của áp suất thủy tĩnh:

    • Áp suất thủy tĩnh là áp suất của dung môi (nước).
    • Áp suất thủy tĩnh có tác dụng đẩy nước và các chất hòa tan trong nước đi từ nơi có áp suất thủy tĩnh cao sang nơi có áp suất thủy tĩnh thấp.

    (Ví dụ ở màng mao mạch phía tiểu động mạch, áp suất thủy tĩnh trong mao mạch lớn hơn áp suất thủy tĩnh ngoài mao mạch nên nước và các chất hòa tan trong nước sẽ khuếch tán ra ngoài mao mạch.)

    + Ảnh hưởng của chênh lệch áp suất thẩm thấu:

    • Áp suất thẩm thấu là áp suất của các chất hòa tan như muối NaCl và protein (áp suất keo).
    • Áp suất thẩm thấu có tác dụng giữ nước ở lại (ngăn cản không cho nước di chuyển sang phía bên đối diện), đồng thời lại có tác dụng hấp dẫn (kéo) nước từ nơi có áp suất thẩm thấu thấp đến nơi có áp suất thẩm thấu cao gọi là hiện tượng thẩm thấu.
    • Như vậy, sự thẩm thấu thực chất là một quá trình khuếch tán của các phân tử dung môi (nước).

    Công thức tính áp suất thẩm thấu của một dung dịch theo luật Van’t Hoff:

    P = RTC

    Trong đó: R là hằng số khí lý tưởng

    T là nhiệt độ tuyệt đối

    C là nồng độ thẩm thấu.

    *Nồng độ thẩm thấu: là nồng độ mol của của chất hòa tan và phụ thuộc vào số hạt chất tan trong 1 đơn vị thể tích

    Mỗi hạt thẩm thấu là 1 phân tử của chất không phân ly hoặc 1 ion của phân tử phân li thành ion.

    Đơn vị nồng độ thẩm thấu là osmol (1osmol=1000 mosmol)

    Có hai loại: osmolality (mosm/Kg dung dịch) và osmolality (mosm/lít dung dịch). Trong thực hành y khoa, thường dùng osmolarity.

    – Khuếch tán qua lớp lipid kép: là khuếch tán qua khoảng kẽ giữa các phân tử của lớp lipid kép.

    +Chất được vận chuyển là các chất hòa tan trong dầu như O2, CO2, nitơ, acid béo, vitamin tan trong dầu A, D, E, K, rượu …

    +Mặc dù nước không hòa tan trong dầu nhưng một phần nước vẫn có thể khuếch tán qua lớp lipid kép vì kích thước của chúng nhỏ nhưng động năng của chúng lại rất lớn nên chúng có thể xuyên qua lớp lipid kép như những “viên đạn” (bullets).

    +Các ion không thể thấm qua lớp lipid kép.

    – Khuếch tán qua các kênh protein:là khuếch tán qua phân tử protein xuyên màng dạng kênh.

    +Chất được vận chuyển là nước và các chất hòa tan trong nước như các ion. Các kênh protein này chọn lọc chất khuếch tán do đặc điểm về đường kính, hình dạng, điện tích.

    +Các kênh còn được đóng mở bằng cổng theo điện thế hoặc hóa học. Các kênh quan trọng như kênh Na+ cho Na+ đi từ ngoài vào trong tế bào; kênh K + cho K + đi từ trong ra ngoài tế bào; kênh Cl – cho Cl – đi từ ngoài vào trong tế bào; kênh Ca 2+ cho Ca 2+ và cả Na + đi từ ngoài vào trong tế bào.

    • Nước và các chất hòa tan trong nước.
    • Các kênh protein này chọn lọc chất khuếch tán do đặc điểm về đường kính, hình dạng và điện tích của kênh.

    – Khuếch tán được gia tốc.

    Là sự khuếch tán nhờ vai trò của chất mang, còn gọi là khuếch tán qua chất mang.

    Chất mang này chính là protein xuyên màng không có tính chất enzyme.

    + Chất khuếch tán:

    • Là chất hữu cơ không tan trong lipid và có kích thước phân tử lớn, đặc biệt là Glucose, acid amin.
    • Insulin kích thích tốc độ khuếch tán gấp 10 – 20 lần.
    • Có thể vận chuyển các monosaccharide khác như Galactose, mantoze, xylose, arabinose.

    + Cơ chế khuếch tán được gia tốc:

    • Chất được vận chuyển gắn vào protein mang làm cho protein mang thay đổi cấu hình và mở ra ở phía bên kia của màng.
    • Chuyển động nhiệt của phân tử chất khuếch tán sẽ tách nó ra khỏi điểm gắn và di chuyển về bên kia màng.

    + Tốc độ khuếch tán:

    phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có số lượng protein mang trên một đơn vị diện tích màng. Do đó, tốc độ khuếch tán có giá trị tối đa (Vmax) chứ không phải tuyến tính như khuếch tán đơn giản.

    * Thẩm thấu:

    * Điện thẩm.

    * Siêu lọc

    2. Vận chuyển chủ động.

    1. Khái niệm.

    Vận chuyển chủ động có đặc điểm:

    – Cần tiêu thụ năng lượng ATP.

    – Cần chất chuyên chở (chất mang có tính enzym hay còn gọi là bơm).

    – Diễn ra theo hướng ngược gradient từ nơi có nồng độ thấp đến nơi có nồng độ cao tiến tới làm bậc thang nồng độ ngày càng rộng hơn.

    1. Các dạng vận chuyển chủ động.
    2. Vận chuyển chủ động sơ cấp.

    * Đặc điểm.

    – Nguồn gốc năng lượng: thủy phân ATP hoặc một vài hợp chất Phosphate cao năng khác.

    – Chất được vận chuyển: ion Na+, K+, Ca2+, H+, Cl-

    – Bao gồm:

    • Bơm Na+ -K+ -ATPase
    • Bơm Ca2+
    • Vận chuyển chủ động sơ cấp ion H+

    – 1.1 Bơm Na+, K+, ATPase

    • Hoạt động: 3 Na+ vô, 2 K+ ra.

    => Do năng lượng cung cấp từ ATP làm thay đổi cấu hình chất mang.

    • Chức năng: do bơm có vai trò duy trì nồng độ Na+ và K+ khác nhau 2 bên màng.

    [Na0+]>[Nai] , [Ki+]>[K0+].

    Do đó giúp: (1) Điều hòa thể tích tế bào ( quan trọng nhất); (2) tác nhân tạo ra điện thế màng.

    Câu hỏi:

    – Bơm Ca2+: hiện diện ở hầu hết tế bào trong cơ thể, khi bơm hoạt động sẽ bơm Ca 2 + từ trong bào tương ra ngoài tế bào hoặc vào các bào quan trong tế bào duy trì nồng độ Ca 2 + thấp trong bào tương tế bào.

    – Bơm proton H+: vận chuyển chủ động sơ cấp ion H+ ở một số nơi trong cơ thể như:

    + Tế bào thành của dạ dày: bài tiết H+ để tạo HCl trong dịch vị.

    + Ông thận (đoạn cuối ống lượn xa, ống góp): bài tiết H+ để điều hòa nồng độ H+ trong máu.

    1. Vận chuyển chủ động thứ cấp.

    * Khái niệm.

    – Năng lượng cung cấp cho vận chuyển gián tiếp từ sự thủy phân ATP.

    – Chất được vận chuyển: chất hữu cơ như glucose, acid amin, các ion.

    – Tính chất của sự phối hợp các protein mang: protein mang thứ nhất có tính chất enzym (bơm) hoạt động theo cơ chế vận chuyển chủ động sơ cấp tạo ra một bậc thang nồng độ của ion. Năng lượng được giải phóng từ bậc thang nồng độ ion cho phép protein mang thứ hai không có tính chất enzym vận chuyển ion theo bậc thang nồng độ và chất cùng vận chuyển khác ngược bậc thang nồng độ.

    *Hai loại vận chuyển chủ động thứ cấp:

    *Đồng vận chuyển thuận (Co-transport):

    các chất được vận chuyển đi cùng một hướng.

    Ví Dụ: đồng vận chuyển thuận Na + (ngoài vào trong )và glucose/acid amin ở tế bào biểu mô ống tiêu hóa và ống thận để hấp thu các chất này vào máu.

    *Đồng vận chuyển nghịch (Counter – transport):

    các chất được vận chuyển đi ngược hướng nhau.

    Ví dụ: đồng vận chuyển nghịch của K + hoặc H + với Na + ở tế bào biểu mô ống lượn xa và ống góp để bài tiết K + hoặc H + và tái hấp thu Na + trao đổi.

    Câu hỏi: Những cách mà Na+ đi qua được màng tế bào

    3. Vận chuyển vật chất bằng một đoạn màng tế bào. ( vận chuyển tích cực qua kẽ tế bào )

    -Vận chuyển vật chất bằng một đoạn màng được thực hiện thông qua cơ chế hòa màng.

    -Hòa màng là khả năng màng tế bào có thể cắt một đoạn màng tạo thành túi hoặc ngược lại bổ sung màng túi vào màng tế bào.

    – Xảy ra tại biểu mô ruột, biểu mô ống thận, biểu mô các tuyến ngoại tiết đám rối mạch mạc ở não

    EMF = +- 61 log Ci/Co (mV)

    Na+ = -61 log 0,1 = 61mV ( Bên ngoài màng: 40, bên trong 140 )

    Cl-= -61( log 103/4) = – 86mV ( ngoài màng 103, bên trong 4)

    K+ = -94mV

    Nếu như trong thời điểm xét, chỉ cho Na+ là 61mV

    1. Hiện tượng nhập bào.

    +Nhập bào là hiện tượng tế bào nuốt các chất bên ngoài tế bào.

    -Có hai hình thức:

    + Thực bào (phagocytosis): là hiện tượng tế bào nuốt vi khuẩn, mô chết, bụi…

    Chỉ một số tế bào có khả năng này đó là các đại thực bào ở mô hình thành từ các bạch cầu mono trong máu, bạch cầu hạt trung tính (tiểu thực bào) và bạch cầu ưa acid.

    + Ẩm bào (pinocytosis): là hiện tượng tế bào nuốt các dịch lỏng và các hòa chất tan có kích thước nhỏ…

    Âm bào xảy ra liên tục ở hầu hết các tế bào.

    – Cơ chế nhập bào: màng bào tương tế bào kết dính với chất được nhập bào.

    Phía trong màng bào tương tế bào sát với những chỗ kết dính này là một mạng lưới các sợi protein có cấu tạo bởi các sợi actin và myosin.

    Các sợi này sẽ co rút với năng lượng từ ATP làm cho màng bào tương lõm vào trong và dần dần hình thành túi nhập bào tách khỏi màng bào tương đi vào bên trong tế bào.

    Phần màng bào tương còn lại sẽ hợp nhất với nhau bằng cơ chế hòa màng.

    – Chức năng: hiện tượng nhập bào tạo hai chức năng:

    + Khởi đầu quá trình tiêu hóa của tế bào: khi nuốt các chất, màng tế bào đóng gói lại thành túi không bào đưa vào bào tương tế bào. Tại đây, túi này sẽ hòa màng với lysosome (tiêu thể) thành túi tiêu hóa, các enzyme thủy phân trong lysosome sẽ phân cắt các chất được hấp thu thành nhiều thành phần. Các thành phần dinh dưỡng sẽ được đưa vào bào tương tế bào, các cấu trúc kháng nguyên sẽ được ra

    1. Hiện tượng xuất bào.

    Xuất bào là hiện tượng tế bào bài tiết các chất được tổng hợp trong tế bào như hormon, chất truyền đạt thần kinh hoặc các chất cặn bã (residual body) sau quá trình tiêu hóa tế bào.

    – Cơ chế xuất bào: các chất bài tiết được đóng gói trong các túi và được vận chuyển đến màng bào tương tế bào nhờ năng lượng ATP. Tại đây, bằng cơ chế hòa màng các túi này mở thông ra bên ngoài giải phóng các chất bài tiết và trở thành một phần của màng bào tương tế bào.